Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

Sở y tế Hà Tĩnh - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẨU THUẬT THAY THUỶ TINH THỂ NHÂN TẠO NGOÀI BAO TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HƯƠNG SƠN

                                                          BS Nguyễn Tuấn Anh

                                              Bệnh viện đa khoa huyên Hương Sơn


 I. ĐẶT VẤN ĐỀ.


Đục thuỷ tinh thể là bệnh lý phổ biến đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây mù tại Việt Nam và trên thế giới. Theo nghiên cứu của Viện mắt Trung ương năm 1995 tỷ lệ mù do đục thuỷ tinh thể ở Việt Nam là 0,84% dân số, chiếm 66,1% tổng số người mù trên cả nước. Tỷ lệ đục TTT ở  người trên 60 tuổi là gần 70%.


Từ lâu con người ta đã xác định vai trò quan tọng của đôi mắt (đôi mắt là cửa sổ tâm hồn).Đất nước ta đang trên đà phát triển đời sống vật chất tinh thần của người dân được cải thiện,tuổi thọ con người ngày càng được nâng lên. Xã hội ngày càng phát triển nhận thức con người ngày càng được nâng lên do đó vấn đề chăm sóc bảo vệ sức khoẻ càng được quan tâm nhiều hơn. Nhưng do nền công nghiệp phát triển, sự thay đổi khí hậu môi trường,sự tác động của thiên nhiên,sự tổn hại do con người gây ra,sự già nua của tuổi tác.Có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người nói chung  và đôi mắt nói riêng trong đó một số bệnh đã dẫn đến mù loà làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.Đặc biệt bệnh đục thuỷ tinh thể là nguyên nhân hàng đầu,đây là một hậu quả, là gánh nặng cho gia đình và xã hội.Do đó để làm tốt công tác phòng chống mù loà thực hiện hiện chương trình thị giác 2020 quyền được nhìn thấy thì vấn đề đem lại ánh sáng cho bệnh nhân mù do đục thuỷ tinh thể được đặt lên hàng đầu. Trong những năm qua nhờ sự quan tâm của Đảng và nhà nước, sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế,tổ chức từ thiện trong và ngoài nước, công tác phòng chống mù loà đã được triển khai rộng khắp trên cả nước.Trong đó phẩu thuật thay thuỷ tinh thể nhân tạo cho bệnh nhân mù do đục thuỷ tinh thể được quan tâm hàng đầu.

Từ năm 1994 nhờ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế bệnh viện mắt trung ương đã mở nhiều lớp tập huấn phẩu thuật thay thuỷ tinh thể nhân tao ngoài bao cho đến nay tất cả các tỉnh thành trong cả nước đã thực hiện được kỷ thuật này đây là một thành công lớn của nghành mắt Việt Nam.

Ở bệnh viện Hương Sơn kể từ năm 2008 nhờ sự giúp đỡ của tổ chức ORBIS,bệnh viện mắt trung ương, trung tâm mắt Hà Tĩnh chúng tôi đã tiến hành phẩu thuật thay thuỷ tinh thể nhân tạo ngoài bao cho hàng trăm bệnh nhân trên địa bàn.kết quả đạt được tương đối tốt,tuy nhiên cho đến nay chúng tôi chưa tiến hành đánh giá kết quả phẩu thuật hàng năm,để đánh giá hiệu quả của phẩu thuật, theo dõi các biến chứng trong và sau phẩu thuật, chúng tôi tiến hành nghiên cức này để có được một bảng tổng kết đánh giá giúp hoàn thiện thêm quy trình điều trị và chăm soc sau phẩu thuật cho bệnh nhân tại bệnh viện,làm cớ sở để tự đánh giá và so sánh cho những năm sau


II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1. Đối tượng nghiên cứu:

65 bệnh nhân được chẩn đoán đục thuỷ tinh thể và đã được phẩu thuật thay thuỷ tinh thể nhân tạo ngoài bao tại bệnh viện đa khoa huyện Hương Sơn từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011.

+ Tiêu chuẩn chọn vào:

 Bệnh nhân đục thuỷ tinh thể có thị lực từ st (+) trở lên.

+ Tiêu chuẩn loại trừ:

               Bệnh nhân có chỉ định phẩu thuật thay thuỷ tinh thể nhân tạo ngoài bao có các bệnh hiểm nghèo kèm theo như: Tim mạch, thận và tăng huyết áp, tiểu đường dùng thuốc không đáp ứng.

   Bệnh nhân có viêm nhiểm ở my, kết mạc, giác mạc, màng bồ đào mắt có chỉ định mổ.

   Bệnh nhân đục thuỷ tinh thể bẩm sinh, đục thuỷ tinh thể do chấn thương.
2. Phương pháp tiến hành:

Khám bệnh nhân trước mổ: Đo thị lực, nhản áp, khám mắt có giản đồng tử đánh giá tình trạng thuỷ tinh thể, siêu âm mắt và các xét nghiệm trước mổ. Ghi nhận tuổi giới của bệnh nhân.

Tiến hành phẩu thuật thay thuỷ tinh thể nhân tạo ngoài bao bằng đường hầm củng giác mạc.

 Ghi nhận các biến chứng trong mổ và sau mổ.

Bệnh nhân xuất viện sau 5 đến 7 ngày tái khám sau khi ra viện 30 ngày.

Ghi nhận thị lực không kính khi ra viện và sau 30 ngày.
           

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Đặc điểm lâm sàng:
Bảng 1: Đặc điểm về tuổi bệnh nhân.























Nhóm tuổiSố bệnh nhânTỷ lệ %
48 đến 70 tuổi1828 %
71 đến 95 tuổi4772 %
Tổng65100 %

Qua bảng trên ta thấy tuổi bệnh nhân đến mổ là từ 48 tuổi đến 95 tuổi,  nhóm tuổi trên 70 tuổi có 47 người chiếm 72%.Tuổi 48 đến 70 có 18 người chiếm 28% Tuổi trung bình là 80 tuổi
Bảng 2: Đặc điểm giới tính của bệnh nhân.























Giới tínhSố bệnh nhânTỷ lệ %
Nam2335%
Nữ4265%
Tổng65100%

Qua bảng trên ta thấy mặc dù số lượng bệnh nhân chưa đủ để ta đánh giá tỷ lệ mắc bệnh nam/nữ là bao nhiêu nhưng cũng cho ta thấy được số bệnh nhân nữ bị đục thuỷ tinh thể đến mổ muộn cao hơn rất nhiều so với bệnh nhân nam.          
Bảng 3: Ghi nhận thị lực trước mổ.




























Thị lựcSố bệnh nhânTỷ lệ %
ĐNT 0.5m đến <1/1058%
BBT2030%
ST(+)4062%
>=1/1000%

Nhìn vào bảng trên ta thấy số bệnh nhân có thị lực trước mổ thấp là rất cao. 100% bệnh nhân có thị lực trước mổ <1/10. Trong đó thị lực st(+) có40 người chiếm 62% . thị lực BBB có 20 người chiếm 30%. thị lực ĐNT 0,5m  đến<1/10 có 5 người chiếm 8%.

 Bảng 4: Bệnh nhân có bệnh kèm theo.




























Bệnh kèm theoSố bệnh nhânTỷ lệ %
Tiểu đường35%
Tăng huyết áp1218%
Không có bệnh kèm theo5077%
Tổng:65100%

Ở đây chúng tôi chỉ thực hiện phẩu thuât cho những bệnh nhân bị đục thuỷ tinh thể không có bệnh kèm theo và những bệnh nhân đục thuỷ tinh thể bị tiểu đường, tăng huyết áp mà đáp ứng tốt với các thuốc điều trị thông thường. Do đó trong nghiên cứu đánh giá này tỷ lệ bệnh nhân có bệnh kèm theo là rât thấp.
2. Điều trị:
2.1 Đường mổ.

Ở đây chúng tôi chỉ thực hiện mổ đường hầm củng giác mạc, đây là đường mổ có nhiều ưu điểm, kết quả thị lực sau mổ tốt và giảm tỷ lệ biến chứng trong và sau mổ.
2.2  Các biến chứng trong mổ.
Bảng 5:























Biến chứngSố bệnh nhânTỷ lệ %
Chảy máu vết mổ23%
Thủng bao sau46%
Không biến chứng5991%

Có 4 trường hơp bị thủng bao sau trong quá trình phẩu thuật

Có 2 trường hợp chảy máu vết mổ .
2.3  Biến chứng sau mổ.
Bảng 6:






































Biến chứngSố bệnh nhânTỷ lệ %
Viêm màng bồ đào1117%
Chảy máu tiền phòng35%
Viêm giác mạc khía58%
Xẹp tiền phòng00
Không có biến chứng4670%
Tổng:65100%

Qua bảng trên ta thấy có 11 ca viêm màng bồ đào

3 ca chảy máu tiền phòng

 5 ca viêm giác mạc khía
2.4 Thị lực không kính khi ra viện.
Bảng 7:




























Thị lựcSố bệnh nhânTỷ lệ %
ĐNT 1m đến < 1/103046%
1 đến 2/102843%
Trên 3/10711%
Tổng:65100%

Khi xuất viện : Có 30 bệnh nhân có thị lực từ ĐNT 1m đến <1/10 chiếm 46%.

Có 28 bệnh nhân có thị lực từ 1/10 đến 2/10 chiếm 43%.

Có 7 bệnh nhân có thị lực trên 3/10 chiếm 11%
2.5    Thị lực sau khi ra viện 30 ngày:
Bảng 8:




























Thị lựcSố bệnh nhânTỷ lệ %
>= 3/105382%
1/10 đến 2/101015%
< 1/1023%
Tổng:65100%

Qua bảng trên ta thấy sau mổ sau 30 ngày số bệnh nhân có thị lực từ 3/10 trở lên có 53 người chiếm 82%,

 bệnh nhân có thị lực từ 1 đến 2/10  có 10 người chiếm 15%,

 bệnh nhân có thị lực dưới 1/10 có 2 người chiếm 2%.


IV. BÀN LUẬN
1. Tuổi bệnh nhân.

Bênh nhân có độ tuổi từ 48 đến 95 trong đó:

Tuổi từ 48 đến 70 có 18 người chiếm 28%.

Tuổi từ 71 đến 95 có 67 người chiếm 72%

Qua đó ta thấy tuổi của bệnh nhân đến mổ là rất cao .Trung bình là 80 tuổi, nếu so sánh với kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu bệnh viện mắt thành phố Hồ Chí Minh chỉ là 61%, thì tuổi trung bình của chúng tôi cao hơn rất nhiều.

Điều đó cho thấy đặc điểm của địa bàn huyện Hương Sơn là huyện miền núi nên điều kiện kinh tế xã hội và truyền thông còn hạn chế cho nên nhận thức của người dân về việc chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nói chung và chăm sóc bảo vệ mắt nói riêng đặc biệt là bệnh đục thuỷ tinh thể ở người già.Do đó số người già bị mù do đục thuỷ tinh thể chưa được mổ hoặc đến mổ muộn là rất cao.Đây là yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thị lực sau mổ của bệnh nhân.
2. Thị lực trước mổ.

100% bệnh nhân có thị lưc trước mổ dưới 1/10 trong đó.

40 bệnh nhân có thị lực st(+) chiếm 62%.

20 bệnh nhân có thị lực BBB (bóng bàn tay) chiếm 30%’

5 bệnh nhân có thị lực ĐNT 0,5m đến <1/10 chiếm 8%.

Qua đó cho thấy số bệnh nhân có thị lực thấp đến mổ là rất cao .So với kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu bệnh viện  Mắt TP Hồ Chí Minh thì thị lực trước mổ dưới 1/10 chỉ là 2,4% ,điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thị lực sau mổ.
3. Biến chứng trong mổ        

Có 2 ca chảy máu vết mổ chiếm tỉ lệ 3% ,cả 2 ca này đề được xử lý cầm máu tốt sau đó
4.  Thủng bao sau

Có 4 ca bị thủng bai sau ,chiếm tỷ lệ 6% ,trong đó cả 4 ca đều có đồng tử giản không tốt nhưng đã được xử lý tốt ,không bị rơi nhân và đặt được thuỷ tinh thể nhân tạo .

Theo nhiều nghiên cứu tỷ lệ rách bao sau trong phẫu thuật Phaco khoảng 1% đến 5%
5. Biến chứng sau mổ

Có 11ca viêm màng bồ đào ,chiếm 17%

Có 3 ca chảy máu tiền phòng, chiếm 5%

Có 5 ca viêm giác mạc khía , chiếm 8%

Tất cả các biến chứng trên đều được phát hiện sớm và xử trí kịp thời , kết quả đều tốt ,không ảnh hưởng đến thị lực sau mổ của bệnh nhân   
6 . Thị lực không kính sau khi ra viện

Thị lực ĐNT 1m đến dưới 1/10 có 30 ca , chiếm 46%

Thị lực 1/10 đến 2/10 có 28 ca , chiếm 43%

Thị lực 3/10 trở lên có 7 ca , chiếm 11%

Tỷ lệ thị lực thấp khi ra viện cao là phù hợp vì khi đó vết mổ chưa ổn định Trong số này chúng tôi thấy bệnh nhân già bị đục thuỷ tinh thể quá chín thì thị lực sau mổ phục hồi chậm hơn.
7 . Thị lực không kính sau mổ 30 ngày

Thị lực 3/10 trở lên có 52 ca , chiếm 82%

Thị lực 1/10 đến 2/10 có 10 ca , chiếm 15%

Thị lực  dưới 1/10 có 2 ca , chiếm 3%

Kết quả thị lực sau mổ 30 ngày đều tương đối tốt ,đạt tiêu chuẩn của WHO năm 1998 về kết quả sau mổ đục thuỷ tinh thể                                              
            Bảng hướng dẫn của WHO năm 1998 kết quả thị lực sau mổ đục thuỷ tinh thể



























 Post-

Operativecuity
Availabele CorrectionBest

Correction
Good>= 6/18>80%>90%
Borderline<6/18 -  6/60<15%<5%
Poor<6/60<5%<5%

 
* VỀ SỰ GIÁM SÁT THƯỜNG XUYÊN KẾT QUẢ PHẨU THUẬT

- Việc giám sát thường xuyên kết quả phẩu thuật là cần thiết giúp cho phẩu thuật viên và cơ sở phẩu thuật giám sát chính kết quả của mình theo thời gian

- Cần đánh giá được kết quả phẩu thuật khi ra viện và 30 ngày sau mổ

Các nguyên nhân chính của kết quả của thị lực kém sau mổ gồm:

+Có bệnh lý mắt phối hợp

+Biến chứng phẩu thuật

+Chỉnh kính chưa tốt


V. KẾT LUẬN

Qua kết quả đánh giá trên ta thấy: Tuổi trung bình của bệnh nhân đến mổ là rất cao (80 tuổi). Thị lực trước mổ là rất thấp 100% bệnh nhân có thị lực <1/10, trong đó 62% có thị lực st(+)

Về kết quả thị lực sau mổ là tương đối cao, đạt yêu cầu của bảng hướng dẫn về thị lực sau mổ, thay thuỷ tinh thể nhân tạo của WHO năm 1998.

Tỷ lệ biến chứng trong mổ và sau mổ thấp.

Do đó mặc dầu hiện nay đã có kỷ thuật mổ thay thuỷ tinh thể nhân tạo bằng phương pháp Phaco, nhưng kỷ thuật mổ thay thuỷ tinh thể nhân tạo ngoài bao vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc đưa lại ánh sáng cho người mù do đục thuỷ tinh thể. Trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói chung và huyện Hương Sơn nói riêng do điều kiện kinh tế xã hội và thông tin tuyên truyền còn hạn chế nên việc nhận thức về chăm sóc sức khoẻ nói chung và chăm sóc sức khoẻ về mắt nói riêng của ngươi dân chưa đầy đủ, do đó tỷ lệ bệnh nhân bị đuc thuỷ tinh thể không được phát hiện hoặc phát hiện muộn là rất cao, điều này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thị lực sau mổ. Để làm giảm tỷ lệ mù do đục thuỷ tinh thể ngoài việc nâng cao trình độ chuyên môn và trang thiết bị kỷ thuật mổ thay thuỷ tinh thể nhân tạo thì việc nâng cao đời sống xã hội, tuyên truyền giáo dục  chăm sóc sức khoẻ cho người dân nói chung và chăm sóc sức khoẻ về mắt nói riêng, đặc biệt là đối với người cao tuổi là vô cùng quan trọng để làm giảm tỷ lệ mù loà thực hiện tốt chương trình thị giác 2020 quyền được nhìn thấy.        


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Trần Duy Tiến : “Vết mổ đường hầm cũng giác mạc trong phẫu thuật thuỷ tinh thể ngoài bao có đặt kính nội nhãn hậu phòng” Luận văn CK cấp II chuyên khoa mắt -1998.

2. Tôn Thị Kim Thanh : “phương pháp phẫu thuật đục thuỷ tinh thể ngoài bao kết hợp đặt thuỷ tinh thể  nhân tạo hậu phòng những nghiên cứu bước đầu” CTNCKH ngành Mắt toàn quốc 1999.

3. Lê Minh Tuấn : Luận án tiến sỹ y học chuyên ngành mắt 1998.

4. Sách: Nhãn khoa giãn yếu- Tác giả : PGS.TS.NGUT Phan Dẫn và cộng sự ,NXB y học Hà Nội năm 2007.

 

                                                                     

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét