Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Sở y tế Đà Nẵng - Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng khám, chữa bệnh tại bệnh viện

Ngày 12 tháng 7 năm 2013 Bộ Y tế ban hành Thông tư số 19/2013/TT-BYT hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện. Thông tư ra đời được xem là căn cứ pháp lý quan trọng giúp các bệnh viện thiết lập hệ thống, xác định nhiệm vụ, yêu cầu và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh.


Kể từ ngày 15/9/2013 khi Thông tư có hiệu lực thi hành, tất cả các bệnh viện phải tổ chức triển khai thực hiện đúng theo các quy định nêu trong Thông tư. Cụ thể, mỗi bệnh viện phải thành lập Hội đồng quản lý chất lượng bệnh viện. Đối với các bệnh viện hạng đặc biệt và bệnh viện đa khoa hạng 1 phải thành lập phòng quản lý chất lượng; các bệnh viện khác tùy theo quy mô, điều kiện và nhu cầu của từng bệnh viện để quyết định thành lập phòng hoặc tổ quản lý chất lượng.


Thông tư cũng nêu rõ các nguyên tắc tổ chức thực hiện quản lý chất lượng. Trong đó nguyên tắc quan trọng hàng đầu là “Lấy người bệnh làm trung tâm”. Việc bảo đảm và cải tiến chất lượng là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của bệnh viện. Giám đốc bệnh viện là người chịu trách nhiệm về chất lượng bệnh viện; tất cả cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong bệnh viện đều có trách nhiệm tham gia vào hoạt động quản lý chất lượng.


Về nội dung quản lý chất lượng bệnh viện bao gồm:


- Xây dựng kế hoạch, chương trình bảo đảm và cải tiến chất lượng trong bệnh viện;


- Duy trì quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bệnh viện;


- Xây dựng chỉ số chất lượng, cơ sở dữ liệu và đo lường chất lượng bệnh viện;


- Tổ chức triển khai các quy định, hướng dẫn chuyên môn trong khám bệnh, chữa bệnh;


- Triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn người bệnh và nhân viên y tế;


- Áp dụng bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng bệnh viện;


- Đánh giá chất lượng bệnh viện.


Lộ trình công tác quản lý chất lượng bệnh viện được thực hiện qua 03 giai đoạn:


Từ nay đến năm 2015: Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý chất lượng bệnh viện; bệnh viện áp dụng bộ tiêu chí, tiêu chuẩn quản lý chất lượng do Bộ Y tế ban hành hoặc thừa nhận để tự đánh giá và cải tiến chất lượng.


Giai đoạn 2016-2018: Bệnh viện đánh giá hiệu quả việc áp dụng các bộ tiêu chí, tiêu chuẩn, chỉ số, mô hình, phương pháp chất lượng; tự nguyện đăng ký với tổ chức chứng nhận chất lượng để đánh giá chất lượng bệnh viện; các cơ quan quản lý tiến hành đánh giá, thẩm định và công nhận chất lượng bệnh viện.


Sau năm 2018: Bệnh viện tiếp tục áp dụng các bộ tiêu chí, tiêu chuẩn, chỉ số, mô hình, phương pháp chất lượng và đăng ký chứng nhận chất lượng theo hướng dẫn của Bộ Y tế và các tổ chức chứng nhận chất lượng độc lập.


Xem chi tiết Thông tư 19/2013/TT-BYT tại đây: FCKFiles/File/TT19.2013.BYT.doc 
        


 (Xuân Trường)



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Sở y tế Hải Dương - Liên tiếp xuất hiện sữa “dính chàm”

Liên tục trong mấy ngày gần đây, Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế đã phát đi thông tin cảnh báo và yêu cầu thu hồi một số loại sữa nhập khẩu có chứa vi khuẩn gây độc tố, không đảm bảo chất lượng. Thông tin này đa khiến nhiều người tiêu dùng hoang mang, lo lắng vì trước đó đa lựa chọn cho con em mình sử dụng một trong những sản phẩm sữa không đảm bảo an toàn thực phẩm vừa được công bố này…


Điểm mặt sản phẩm sữa không đảm bảo


Ngày 5/8, Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế vừa nhận được thông tin từ Đại sứ quán New Zealand tại Việt Nam thông báo về việc các sản phẩm dinh dưỡng công thức cho trẻ nhỏ có chứa whey protein concentration bị nhiễm Clostridium Botulinum xuất khẩu sang Việt Nam, Trung Quốc, Australia và Ả-rập Xê-út. Các sản phẩm này gồm: Karicare Formula số 1 (cho trẻ từ 0 – 6 tháng tuổi), số lô 3169 và 3170, hạn sử dụng 17/6/2016 và 18/6/2016; Karicare Gold+ Follow on Formula số 2 (cho trẻ từ 6 – 12 tháng tuổi) số lô D3183, hạn sử dụng 31/12/2014 có thể bị nhiễm vi khuẩn Clostridium Botulinum (vi khuẩn gây độc tố trong thức ăn, thường được gọi là vi khuẩn gây bệnh độc thịt).


wpid lien ti 137639300179535


Thông tin sữa bị nhiễm khuẩn khiến người tiêu dùng lo ngại.


Trong một động thái khác, chiều ngày 5/8, Cục ATTP đã có công văn yêu cầu Công ty TNHH Danone Việt Nam dừng lưu thông và khẩn trương tiến hành thu hồi sản phẩm thực phẩm công thức dinh dưỡng Dumex Gold bước 2 cho trẻ từ 6-12 tháng tuổi loại 800g với số lô 300513R1 sản xuất ngày 30/5/2013 bởi Công ty Danone Dumex (Malaysia) SDN, BHD do nghi nhiễm Clostridium Botulinum. Trước đó, Cục ATTP cũng đã có văn bản yêu cầu văn phòng đại diện Công ty sữa Abbott tại Việt Nam dừng ngay việc lưu thông và thu hồi các lô sản phẩm Similac Gain- Plus Eye-Q (dành cho trẻ 1 – 3 tuổi, loại hộp 400g và 900g) có thể cũng bị nhiễm Clostridium Botulinum.


Yêu cầu kiểm tra nhà nước chặt chẽ thực phẩm có chứa whey protein concentrate nhập khẩu từ Newzealand


Trao đổi với ông Trần Quang Trung, Cục trưởng Cục ATTP được biết, ngay sau khi nhận được thông báo, Cục đã khẩn trương rà soát toàn bộ các sản phẩm Karicare của Công ty Nutricia đã công bố tại Cục từ đầu năm 2012 đến nay. Kết quả cho thấy, tại Việt Nam, sản phẩm Karicare của Công ty Nutricia được công bố tại Cục ATTP lưu hành từ năm 2012. Tuy nhiên, không có sản phẩm Karicare cho trẻ dưới 12 tháng tuổi được công bố tại Cục. Dù vậy, để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng Việt Nam, Cục ATTP đã yêu cầu Công ty TNHH MTV Dinh dưỡng châu Úc – đơn vị nhập khẩu sản phẩm Karicare, khẩn trương thống kê việc nhập khẩu các sản phẩm Karicare và báo cáo về Cục trước ngày 6/8. Cũng liên quan đến sản phẩm dinh dưỡng này, ngày 5/8, Cục ATTP gửi công văn cho các cơ quan kiểm tra nhà nước đề nghị kiểm tra chặt chẽ thực phẩm có chứa whey protein concentrate nhập khẩu từ Newzeland.


 


wpid lien ti 137639300373411


Nhiều mặt hàng sữa bị thu hồi do có chứa vi khuẩn gây độc tố


Đối với 11 lô sản phẩm sữa Similac GainPlus Eye-Q dành cho trẻ 1 – 3 tuổi, loại hộp 400g và 900g (qua khảo sát của phóng viên tại một số điểm bán hàng dành cho trẻ nhỏ được biết sản phẩm sữa này đang được nhiều bà mẹ lựa chọn cho con em mình sử dụng), theo thông báo từ đơn vị nhập khẩu, 11 lô sản phẩm Similac GainPlus Eye-Q nghi ngờ có nhiễm Clostridium Botulinum nhập về Việt Nam từ ngày 17/6 đều đã được phân phối ra thị trường. Do đó, Cục ATTP đã yêu cầu Viện Kiểm nghiệm ATVSTP quốc gia lấy mẫu kiểm nghiệm và sẽ công bố kết quả xét nghiệm chính thức vào tuần này. Ông Trung cũng khuyến cáo người tiêu dùng đã mua sữa Similac GainPlus Eye-Q cần kiểm tra số lô của sản phẩm in ở đáy lon sữa, nếu trùng khớp với số lô của 11 lô hàng bị cảnh báo nhiễm khuẩn thì phải ngưng sử dụng sản phẩm ngay.


Theo Cục ATTP, hiện nay còn 2 lô sữa khác có thể bị nhiễm vi khuẩn Clostridium Botulinum đã được nhập về Việt Nam nhưng không xuất ra thị trường, được giữ lại toàn bộ trong kho của nhà nhập khẩu là lô số 2676G54121 và 2678G54121.


Đến cuối giờ chiều ngày 5/8 theo thông tin từ Cục ATTP, đã có 11.600 thùng sữa Similac GainPlus Eye-Q của hãng Abbott được thu hồi trên tổng số 12.927 thùng đã xuất ra thị trường.


Ý kiến chuyên gia Theo TS. Lâm Quốc Hùng – Trưởng phòng Giám sát ngộ độc thực phẩm, Cục ATTP, do sử dụng đồ ăn, thức uống nhiễm Clostridium Botulinum đã sinh ra độc tố hoặc do ăn uống phải thực phẩm chứa nha bào Clostridium Botulinum, khi vào đường tiêu hóa phát triển thành thể sinh dưỡng, sinh ra độc tố và gây bệnh. Các loại đồ hộp, thức ăn được chế biến, sản xuất, bảo quản không đạt tiêu chuẩn vệ sinh trong điều kiện yếm khí dễ bị nhiễm Clostridium Botulinum.


TS. Nguyễn Duy Thịnh, Viện Công nghệ thực phẩm (ĐH Bách khoa Hà Nội) cho biết: Clostridium Botulinum phát triển mạnh trong môi trường ẩm thấp của thực phẩm khi không được bảo quản tốt. Những người ăn phải thực phẩm chứa Clostridium Botulinum không hề có biểu hiện hay triệu chứng gì. Nếu ăn phải thực phẩm nồng độ thấp có chứa vi khuẩn nhiễm Clostridium Botulinum không đáng kể, cơ thể con người sẽ tự đào thải một phần độc tố qua bên ngoài. Hoặc có thể sẽ tích lũy và đi vào gan, não gây ra tê liệt một số bộ phận. Nhưng nếu ăn phải nồng độ cao, độc tố sẽ không thể đào thải ra bên ngoài và gây nguy hiểm đến tính mạng, bởi đây là vi sinh vật mang độc tố cực mạnh nếu như phát triển


                                                                                                                  TB


Liên quan đến 11 lô sản phẩm sữa Similac GainPlus Eye-Q (số 3, dành cho tre tu 1 - 3 tuổi, chỉ loại hộp 400g và 900g) bị nhiễm khuẩn, đại diện của hãng Abbott Nutrition Việt Nam cho biết, khách hàng đa mua sữa này cần kiểm tra số lô (in dưới đáy lon là “LOT NO”) và nếu thấy số lô trùng khớp với số lô bị ảnh hưởng thì mang đến nơi bán hàng để được đổi sản phẩm và gọi tới đường dây nóng của Abbott Nutrition 19001519 nếu có bất kỳ thắc mắc nào. 


Danh sach cac lo bị nhiễm vi khuẩn Clostridium Botulinum đã xuất ra thị trường và đang được thu hồi bao gồm: 2564G54114, 2564G54115, 2564G54116, 2564G54117, 2564G54118, 2565G54118, 2565G54119, 2566G54119, 2566G54120, 2567G54120, 2676G54120.


 



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Hải Dương - Tăng cường bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm dịp Tết Quý Tỵ

An toàn vệ sinh thực phẩm trong dịp Tết Nguyên Đán là một trong những trọng tâm trong công tác ATVSTP. Ông Phạm Duy Tuyến (ảnh), Chi cục trưởng chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm đã trao đổi về các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm dịp trước và sau Tết Nguyên Đán Quý Tỵ.


wpid tang cu 137639299254896


PV: Thưa ông, ngành y tế tỉnh đã triển khai thực hiện sự chỉ đạo của Bộ, ngành cũng như UBND tỉnh ra sao về công tác VSATTP cho dịp Tết Nguyên đán sắp tới?


Ông Phạm Duy Tuyến: Như chúng ta đã biết, công tác đảm bảo an toàn thực phẩm ở Việt Nam nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng đang được các cấp uỷ Đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo. Về mặt chuyên môn, kết quả công tác đảm bảo an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh từng bước đi vào nề nếp có hiệu quả. Trong các dịp cao điểm trong năm, Ngành Y tế đều tham mưu Ban chỉ đạo về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh ban hành các kế hoạch đảm bảo an toàn thực phẩm.


Trong dịp Tết Nguyên đán Quý Tỵ năm nay, thực hiện Kế hoạch số 18/KH-BCĐTƯVSATTP ngày 28/12/2012 của Ban chỉ đạo liên ngành Trung ương về vệ sinh an toàn thực phẩm triển khai đợt thanh tra, kiểm tra liên ngành về an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Quý Tỵ năm 2013 và Kế hoạch số 07/KH-BYT ngày 07/01/2013 của Bộ Y tế triển khai "Tháng cao điểm về an toàn thực phẩm Tết năm 2013", Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm – Sở Y tế đã tham mưu Ban chỉ đạo về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh xây dựng Kế hoạch số 56/KH-BCĐ triển khai "Tháng cao điểm về an toàn thực phẩm Tết năm 2013" trên địa bàn tỉnh. Trong đó nhấn mạnh 3 mục đích cần đạt được đó là:


- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về ATTP nhằm hạn chế tối đa ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm.


- Đánh giá công tác chỉ đạo, việc triển khai các biện pháp bảo đảm ATTP trong dịp Tết Nguyên đán của các cấp, các ngành từ huyện, TX, TP đến xã, phường, thị trấn.


- Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục kiến thức, pháp luật về ATTP, nâng cao nhận thức và ý thức của cộng đồng trong công tác bảo đảm ATTP.


Theo đó, Ban chỉ đạo đã thành lập 06 đoàn thanh, kiểm tra liên ngành tiến hành thanh, kiểm tra 12 ban chỉ đạo về an toàn thực phẩm huyện/TP/TX và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn bắt đầu từ ngày 10/01/2013 – 25/02/2013.


Để đánh giá tình hình đảm bảo an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán và kiểm tra một số cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm quy mô lớn cung cấp cho thị trường Tết, Ngành Y tế đã tham mưu UBND tỉnh thành lập Đoàn công tác vào ngày 14/01/2013 do đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng đoàn, thành viên là các đồng chí Lãnh đạo Sở Y tế, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Công thương làm việc tại một số doanh nghiệp như Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Hoàng Long Habico là cơ sở giết mổ gia súc gia cầm tập trung quy mô lớn đầu tiên của tỉnh, Siêu thị Big C Hải Dương, Công ty TNHH Gia Bảo và một số chợ kinh doanh thực phẩm trên địa bàn Thành phố Hải Dương. Trong buổi làm việc, các cơ sở được kiểm tra đều cam kết sẽ sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn để cung cấp cho thị trường. Cũng trong buổi làm việc, đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh đã có một số ý kiến chỉ đạo cụ thể.


Bên cạnh công tác thanh, kiểm tra của Ban chỉ đạo về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh, trong khoảng thời gian từ ngày 20/12/2012 đến ngày 20/02/2013, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm – Sở Y tế đã chỉ đạo Thanh tra chuyên ngành Chi cục tiến hành đi kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phục vụ thị trường Tết Nguyên đán. Đến thời điểm hiện tại, Thanh tra Chi cục đã kiểm tra được 25 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trong đó đã phát hiện 05 cơ sở vi phạm về an toàn thực phẩm. Theo nhận định của Thanh tra Chi cục, các sản phẩm phục vụ Tết Nguyên đán trên thị trường cơ bản đảm bảo thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm.          


PV: Xin ông cho biết một số nguy cơ gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm và cách phòng chống? Ông có khuyến cáo gì với người tiêu dùng đề đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.


Ông Phạm Duy Tuyến: Chúng ta đã đạt được một số kết quả khả quan về công tác đảm bảo an toàn thực phẩm nhưng do phong tục tập quán sản xuất nhỏ lẻ, manh mún khó kiểm soát nên hiện nay nguy cơ mất an toàn thực phẩm vẫn còn rất đáng lo ngại như:


Ô nhiễm sinh học là nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm do một số vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, các vi sinh vật có độc tố bị nhiễm vào thực phẩm hoặc có sẵn trong thực phẩm. Để phòng chống nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm do ô nhiễm sinh học vào thực phẩm, người tiêu dùng cần thực hiện ăn chín uống sôi, không sử dụng các thực phẩm đã biến chất làm thực phẩm.


Ô nhiễm hoá học là các chất hoá học cho thêm vào thực phẩm theo ý muốn của người sản xuất để bảo quản thực phẩm, để tăng tính hấp dẫn của thức ăn hoặc các hoá chất lẫn vào thực phẩm đặc biệt hoá chất bảo vệ thực vật. Ô nhiễm thực phẩm do hoá chất bảo vệ thực vật ở nước ta ngày càng gia tăng do chưa kiểm soát được tình trạng nhập lậu, buôn bán hoá chất bảo vệ thực vật qua biên giới, chưa được hướng dẫn cách dùng đầy đủ và công tác quản lý chưa được nghiêm ngặt. Để bảo vệ sức khoẻ bản thân và gia đình, cần hạn chế sử dụng các thực phẩm chế biến sẵn bày bán trên thị trường, các loại rau quả trái mùa do nguy cơ bị nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật.


Ô nhiễm thực phẩm do các yếu tố vật lý là các dị vật, các yếu tố phóng xạ, các thực vật, động vật trong vùng môi trường bị ô nhiễm phóng xạ bị nhiễm vào thực phẩm. Để hạn chế thực phẩm không an toàn do các yếu tố vật lý mang lại, chúng ta không nên sử dụng thực phẩm ở những vùng bị nhiễm phóng xạ, các sản phẩm của các cơ sở không đảm bảo an toàn thực phẩm


Để loại bỏ giảm thiểu các yếu tố nguy cơ gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm cần đảm bảo tốt các khâu từ sản xuất nông nghiệp, thu gom, bảo quản, chế biến, vận chuyển đến người tiêu dùng.


Về phía người tiêu dùng cần có kiến thức để lựa chọn thực phẩm an toàn cho mình như: 10 nguyên tắc vàng chế biến thực phẩm an toàn, 8 thực hành tốt vệ sinh an toàn thực phẩm và 5 chìa khoá vàng để có thực phẩm an toàn. Chỉ lựa chọn các thực phẩm được sản xuất bởi những cơ sở được chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, sản phẩm được công bố tiêu chuẩn sản phẩm phù hợp quy định, lựa chọn sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đối với các sản phẩm đóng gói cần xem kỹ hạn sử dụng tốt nhất được in trên bao bì sản phẩm.


PV: Xin Ông cho biết, qua thanh tra, kiểm tra nếu phát hiện những cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm thì ngành Y tế sẽ xử lý như thế nào?


Ông Phạm Duy Tuyến: Một nội dung quan trọng trong nhiệm vụ đảm bảo an toàn thực phẩm là công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Trong quá trình thanh, kiểm tra nếu phát hiện cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm thì ngành Y tế sẽ tuỳ theo mức độ vi phạm mà có biện pháp xử lý thích hợp như: Nhắc nhở, cảnh cáo, xử phạt vi phạm hành chính, thu hồi sản phẩm, đình chỉ hoạt động hoặc đóng cửa…Đặc biệt sẽ xử lý thích đáng các cơ sở sản xuất thực phẩm không đảm bảo an toàn thực phẩm cung cấp cho thị trường trong dịp Tết năm nay.


Phóng viên: Xin cảm ơn ông!


                                                                               Thực hiện: Đức Thành


 



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Tiền Giang - Thư mời hội nghị số 33/TM-SYT ngày 18 tháng 3 năm 2013 của Sở Y tế Vv: tổ chức Hội nghị lấy ý kiến dự thảo đất đai

 Tải Thư mời hội nghị số 33/TM-SYT tại đây



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Tiền Giang - Đoàn Bác sĩ Trung ương tổ chức khám bướu cổ tại trường tiểu học Hoàng Hoa Thám

Theo chương trình đánh giá tình trạng bệnh bướu cổ, thiếu Iod cho trẻ trên toàn quốc, ngày 07/5/2013 đoàn Bác sĩ Trung ương tổ chức khám bướu cổ tại trường tiểu học Hoàng Hoa Thám.


wpid doan ba 137639291553624


Đoàn Bác sĩ thuộc Bộ Y tế do ông Mai Anh Tuấn (Trưởng đoàn), Bác sĩ khoa Nội tiết TW Hà Nội; BS. Nguyễn Quang Chúy, Phó Giám đốc bệnh viện Nội tiết, tỉnh Yên Bái và Cử nhân Lâm Minh Tuấn, công tác tại bệnh viện Nội tiết TW Hà Nội phối hợp Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Tiền Giang đã đến khám cho 60 học sinh từ 8 đến 11 tuổi (đang học lớp 3,4,5), 03 giáo viên và tư vấn 15 phụ huynh học sinh về cách phòng, chống và hướng dẫn việc điều trị bệnh.


Đoàn đã trực tiếp đo chiều cao, cân nặng và khám cho các em học sinh, kết quả phát hiện 01/60 (1,70 %) học sinh có biểu hiện bệnh bướu cổ.


Hoàng Tuấn

(Phòng Giáo Dục – Đào tạo TP Mỹ Tho)



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Tiền Giang - Chăm sóc trẻ bị hen phế quản tại nhà

Hen phế quản là bệnh viêm mạn tính của đường thở. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả thể chất và tinh thần người bệnh. Trẻ bị hen phế quản phải giới hạn hoạt động thể lực, đối diện với nguy cơ tử vong, suy hô hấp… khi lên cơn. Vì vậy, cha mẹ và người thân cần biết chăm sóc trẻ bị hen phế quản đúng cách tại nhà.


Khi chăm sóc trẻ mắc hen phế quản tại nhà cần phải biết cách nhận biết và xử trí khi trẻ lên cơn, tránh nguyên nhân làm khởi phát cơn hen, biết cách tự phòng ngừa bằng thuốc và tái khám theo đúng hẹn của bác sĩ.


Các dấu hiệu cơn hen đang đến là trẻ ho, khò khè, khó thở, quấy khóc, nặng ngực, thức giấc về đêm.


wpid cham soc 137639279267480

Khi trẻ có dấu hiệu lên cơn hen phế quản cần sử dụng thuốc cắt cơn có tác dụng nhanh. Ảnh: TL


Khi trẻ có các dấu hiệu trên, cần cho dùng thuốc cắt cơn có tác dụng nhanh. Xịt Ventolin MDI 100mcg 2 lần nếu không dùng buồng đệm, hoặc 4-6 lần nếu có buồng đệm. Mỗi lần cách nhau 1 phút. Có thể lặp lại 3 lần, mỗi lần cách nhau 20 phút. Sau khi xịt thuốc cắt cơn, nếu trẻ chuyển biến tốt thì có thể cho trẻ nghỉ ngơi, khám lại sau đó. Nếu trẻ không có chuyển biến tốt, vẫn còn thở nhanh, khó thở, nói không nổi, tím tái, cánh mũi phập phồng, co kéo hãm trên ức, thượng đòn, cơ ức đòn chũm,… cần nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế. Tuyệt đối không nên dùng thuốc cắt cơn dạng uống khi trẻ đang lên cơn hen.


Điều trị dự phòng bằng thuốc trong các trường hợp: Hen không kiểm soát hoặc kiểm soát một phần; Hen dai dẳng, có triệu chứng 1lần/tuần hoặc hơn, cơn hen về đêm 2 lần/tháng; Hen phế quản từng cơn, nhưng có tiền căn nhập viện vì cơn hen khởi phát nặng; Hen phế quản theo mùa, điều trị dự phòng bắt đầu mùa hoặc khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên và ngừng khi hết mùa.


Lưu ý cho trẻ tái khám đúng hẹn, tái khám ngay cả khi cảm thấy trẻ khỏi bệnh, không lên cơn hen. Bác sĩ sẽ theo dõi và xem lại diễn tiến của bệnh, đánh giá hiệu quả điều trị để có thể tăng, giảm liều hoặc thay thuốc phù hợp.


Giữ trẻ tránh các yếu tố nguy cơ khởi phát cơn hen như lông các loại vật nuôi trong nhà như chó, mèo, khói thuốc, mạt nhà, bụi bặm, khói bếp, gián, các loại bình xịt có mùi nồng nặc… Nhà ở cần thường xuyên mở cửa, quét dọn thông thoáng, vệ sinh sạch sẽ trong thời gian trẻ đi học, tránh dùng thảm trong nhà. Cần tránh cho trẻ hoạt động gắng sức, tránh xúc cảm quá mạnh, lưu ý đề phòng, giữ gìn không để trẻ cảm ho nặng.


Ở trường, cần cho thầy cô giáo biết về tình trạng của trẻ. Trẻ vẫn tập thể dục, chơi thể thao vừa sức bình thường nhưng trước đó 15 phút cần cho trẻ hít giãn phế quản.


Bác sĩ Nguyễn Thái Sơn

Theo tin http://suckhoedoisong.vn



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Tiền Giang - ?n u?ng ?? t?ng ham mu?n

Đến một lứa tuổi nhất định hoặc đôi khi là có thời điểm, có những quý ông tự nhận thấy hình như đã “nguội” mất cảm xúc yêu. Khi đó nếu có được đối tác đề nghị thì nhiều ông rơi vào trạng thái lo lắng, bất an, làm cho cuộc “họp” không tổ chức được mà có “họp” được thì kết quả cũng chẳng ra gì. Giải pháp ở ngay chính quanh ta, ở những món ăn thường dùng mà lúc này đã trở thành bài thuốc.


Gan lợn nấu trứng gà: gan lợn 200g, trứng gà 1 quả, rượu, gia vị, nước xương hầm, gừng đủ dùng. Gan lợn rửa sạch băm nhỏ, quấy đều với lòng trắng trứng, nước xương, gia vị, hành, gừng rồi đổ vào 1 bát tô đặt vào nồi hấp cách thủy. Ăn trong vòng 1 tháng, cách ngày ăn 1 lần. Gan lợn tươi có chứa nhiều chất tổng hợp các axít amin, vitamin cần thiết cho cơ thể. Trứng gà có chứa protid, các chất dinh dưỡng có tác dụng bình can tiềm dương, thanh hỏa tức phong. Thích hợp với những người giao hợp bị chóng mặt, hay bị khó chịu, buồn nôn, mồ hôi nhiều.


Hà thủ ô, trứng gà, táo đỏ: hà thủ ô 20g, câu kỷ tử 20g, táo đỏ 10 quả, trứng gà 2 quả. Cho các thứ trên vào nồi, đun đến khi trứng chín, bóc vỏ trứng ra sau đó lại cho vào nước thuốc đun tiếp tới khi còn 1 bát thì tắt bếp. Bỏ bã thuốc, ăn trứng và uống nước thuốc. Món ăn này có tác dụng tư dưỡng can thận, tăng cường sức đề kháng, chống lão hóa, chứa các axít amin, các vitamin… Những người hay bị chóng mặt, giảm trí nhớ, rụng tóc, đau xương khớp ít có nhu cầu sinh hoạt tình dục nên dùng.


wpid n ung 137639271843775

Chim cút hầm đỗ trọng, sơn dược giúp tăng ham muốn.


Chim cút hầm đỗ trọng, sơn dược: chim cút 2 con, đỗ trọng 40g, táo đỏ 5 quả, sơn dược 80g, câu kỷ tử 20g, gừng tươi, gia vị đủ dùng. Chim cút làm sạch lông, bỏ nội tạng, rửa sạch để ráo nước. Táo đỏ bỏ hạt, cùng các vị thuốc khác rửa sạch. Cho tất cả vào nồi đổ nước hầm tới khi chim cút chín nhừ là dùng được. Các vị thuốc trên đều có tác dụng bổ gan thận, kiện gân cốt. Những người bị vô sinh, khó có con, tinh hoàn nhỏ, xuất tinh yếu dùng là tốt nhất.


BS. Đào Sơn

Theo tin http://suckhoedoisong.vn



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Tiền Giang - Phòng và chữa cảm nắng, cảm nóng

Nắng nóng là yếu tố bất lợi cho sức khỏe con người, nếu phòng chống không tốt rất dễ bị cảm nắng, say nắng, đặc biệt là trẻ em, người cao tuổi và phụ nữ. Người bị cảm nắng thường có các triệu chứng báo trước như da nóng, mồ hôi ra nhiều, khát nước, đau đầu, chóng mặt, tim đập mạnh, buồn nôn, tâm thần mệt mỏi. Sau đây là một số biện pháp xử trí khi bị say nắng nóng theo y học cổ truyền.


Trước hết phải nhanh chóng đưa người bệnh đến chỗ thoáng, thông gió, râm mát, uống nước mát. Tiếp theo xoa bóp các huyệt: khúc trì, đại lăng, thái uyên. Nếu bị ngất lịm, bấm thêm huyệt thiếu trạch, trung xung. Phương pháp xoa bóp: một tay đặt trước bụng, tay kia dùng ngón tay cái bấm huyệt với lực hơi mạnh: ấn xuống rồi thả lên, liên tục như vậy mỗi huyệt 36 lần hoặc hơn tùy bệnh và thể trạng mỗi người. Khi người bệnh tỉnh, cần kết hợp cho ăn, uống các bài thuốc và món ăn giải nhiệt để hỗ trợ điều trị:


Bài 1: xuyên khung, bạch chỉ mỗi vị 80 – 100g, phơi khô, tán mịn. Mỗi lần uống 4g, ngày 2 lần. Cũng có thể dùng bột hòa nước sôi xông mũi. Công dụng: trị cảm cúm, viêm xoang, hắt hơi, sổ mũi.


Bài 2: hương nhu tươi 20g, rau má tươi 30g, lá sen tươi 20g, củ sắn dây tươi thái lát 20g (hoặc bột sắn dây hòa vào thuốc rồi uống). Cho các vị vào nồi, đổ nước vừa đủ sắc 2 lần, hòa chung 2 nước còn lại chia uống 2 lần trong ngày. Công dụng: chữa cảm nắng nóng.


Bài 3: rau má tươi 12g, lá tre 12g, lá hương nhu 16g, củ sắn dây thái lát 12g. Nước vừa đủ, sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần uống.


Bài 4: lá bạc hà 8g, lá kinh giới 8g, cam thảo đất 12g, lá dâu 8g, lá tre 16g, kim ngân 16g. Sắc với 2 bát nước, đun sôi 20 phút, chắt nước lúc còn nóng. Lại sắc uống lần thứ hai. Uống 2 – 3 thang liền.


Bài 5: mạch môn 120g, lô căn 150g rửa sạch thái vụn, trộn đều đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi lần lấy 30g hãm với nước sôi sau 30 phút thì uống. Có thể thêm tí đường phèn cho dễ uống. Tác dụng thanh nhiệt, hạ sốt, trị cảm nắng nóng có sốt.


Sau khi uống thuốc, cho bệnh nhân ăn cháo giải nhiệt gồm: đậu xanh (cả vỏ) 50g, lá dâu non 16g, lá tía tô 12g. Đun chín đậu xanh (có thể cho thêm một ít gạo tẻ), cho lá dâu, lá tía tô đã thái nhỏ vào, đun sôi tiếp 5-10 phút nữa. Ăn khi cháo nguội để tránh ra mồ hôi nhiều. Công dụng: chữa cảm nóng có sốt cao, không sợ lạnh mà sợ nóng, mồ hôi ra dâm dấp, miệng khô, khát, nước tiểu vàng.


Lương y Nguyễn Minh

Theo tin http://suckhoedoisong.vn



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Tiền Giang - THỊ XÃ GÒ CÔNG HƯỞNG ỨNG TUẦN LỄ QUỐC GIA AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG- PHÒNG CHỐNG CHÁY NỔ LẦN THỨ 15 NĂM 2013

Hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia An toàn vệ sinh lao động – Phòng chống cháy nổ (ATVSLĐ – PCCN) lần thứ 15 năm 2013 diễn ra từ ngày 17/3 đến ngày 23/3/2013 với chủ đề “Tăng cường văn hóa lao động và các biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, cháy nổ tại nơi làm việc”, Trung tâm Y tế thị xã Gò Công (TTYT TXGC) chủ động xây dựng kế hoạch số 95/KH-TTYT ngày 14 tháng 3 năm 2013 về Tổ chức Tuần lễ Quốc gia ATVSLĐ-PCCN.

 


Nội dung kế hoạch chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản của tập thể, cá nhân. Trong đó, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các Cấp, các Ngành, đơn vị, doanh nghiệp và người dân trong việc chấp hành nghiêm những quy định về ATVSLĐ-PCCN.


Qua thực hiện, TTYT TXGC phối hợp với ngành chức năng đã tổ chức 1 lớp tập huấn về ATVSLĐ – PCCN có 57 người dự; Phối hợp Đoàn kiểm tra Liên ngành kiểm tra công tác đảm bảo an toàn lao động, yêu cầu các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh – dịch vụ nâng cao ý thức trách nhiệm và chấp hành đúng các quy định của pháp luật về bảo hộ lao động và ATVSLĐ-PCCN nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe người lao động. Kết quả đã tiến hành kiểm tra hơn 12 cơ sở sản xuất, xí nghiệp, doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Gò Công về việc thực hiện an toàn lao động phòng chống cháy nổ; Phát thanh tuyên truyền về phòng chống bệnh nghề nghiệp trên đài truyền thanh thị xã Gò Công và xã, phường 51 lần; Cấp phát 2.500 tờ rơi; treo băng rôn tuyên truyền về ATVSLĐ- PCCN tại các cơ sở sản xuất kinh doanh được 16 cái; Ngoài ra còn vận động người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho cho hơn 875 người lao động làm việc trong môi trường có yếu tố nguy có mắc bệnh nghề nghiệp;


Đây cũng là đợt cao điểm tuyên truyền sâu rộng phong trào chấp hành các quy định của pháp luật về bảo hộ lao động, đảm bảo ATVSLĐ-PCCN. Đồng thời cũng là dịp nâng cao ý thức, trách nhiệm của các Cấp, các Ngành, doanh nghiệp và người lao động đối với công tác ATVSLĐ-PCCN. Nhờ vậy ý thức tự giác của các đơn vị, doanh nghiệp đã nâng lên rõ rệt, góp phần hạn chế tai nạn lao động và cháy nổ.


Trong năm 2013, TTYT TXGC sẽ tiếp tục cùng với các ngành chức năng vận động các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh – dịch vụ phát động phong trào thi đua cải tiến kỹ thuật, cải thiện điều kiện làm việc đi đôi với tập huấn kỹ năng bảo đảm ATVSLĐ, đưa hoạt động này trở thành phong trào thường xuyên gắn liền với hoạt động của cơ quan, đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh – dịch vụ nhằm nâng cao nhận thức trách nhiệm tuân thủ pháp luật về ATVSLĐ – PCCN của người sử dụng lao động và người lao động, qua đó thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển bền vững, góp phần tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu của chương trình Quốc gia về ATVSLĐ giai đoạn 2011 – 2015.


Kim Yến

Phòng TT GDSK thị xã Gò Công


 


 


 



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Tiền Giang - Xử trí người bị ngộ độc thuốc ngủ

Vì áp lực cuộc sống, công việc, căng thẳng thần kinh nhiều người rơi vào tình trạng mất ngủ kinh niên và thường xuyên phải nhờ đến thuốc an thần để duy trì giấc ngủ. Nhiều người quan niệm rằng các loại thuốc an thần từ thảo dược không gây hại… Tuy nhiên đa số các loại thuốc ngủ đều có thể gây hại cho cơ thể thậm chí tử vong nếu lạm dụng hoặc quá liều.


wpid xu tri 137639269324663

Đa số các loại thuốc ngủ đều có thể gây hại cho

cơ thể.


Triệu chứng của người bị ngộ độc thuốc ngủ


Nếu bị ngộ độc nhẹ thì vẫn ngủ say, thở vẫn đều, mạch vẫn đều và rõ, còn phản ứng khi bị cấu vào da hay châm kim… các phản xạ gân và đồng tử giảm hoặc vẫn bình thường.


Còn người bị ngộ độc nặng sẽ rơi vào tình trạng hôn mê sâu, thở chậm và nông, khò khè, mạch nhanh, huyết áp hạ hoặc không đo được, đồng tử co và giảm phản xạ với ánh sáng, phản xạ gân, cơ mất.


Trong hơi thở của nạn nhân bị ngộ độc có thể có mùi thuốc. Nạn nhân khó thở, ngứa họng, ngứa mũi, có khi thở chậm hoặc nhanh hơn bình thường (người lớn bình thường thở từ 16-18 lần/phút). Nhịp tim đập nhanh, có khi đập chậm. Tim đập không đều, ngắt quãng.


Ngoài ra còn bị nôn mửa, có thể nôn ra máu, đau bụng, tiêu chảy. Có thể bí tiểu, nước tiểu màu đỏ hồng (ra máu) hoặc đen, xanh, vàng tùy loại thuốc. Nếu bị nặng, nạn nhân có thể bị vô niệu (không tiểu được), mờ mắt, ù tai, đồng tử ở mắt có thể giãn to hoặc co lại nhỏ hơn bình thường, da khô, xanh tím. Có thể sốt cao hay hạ thân nhiệt, chân tay lạnh, vã mồ hôi…


Cách xử trí


Thực hiện các thao tác để loại bỏ chất độc trong cơ thể người bị nạn bằng cách gây nôn bằng cách móc họng, đè gốc lưỡi người bị nạn để kích thích gây nôn. Hoặc hòa nước muối thật đậm đặc cho uống để gây phản xạ nôn.


Hãy tìm cách luôn luôn giữ cho đường thở lưu thông, thường xuyên hút đờm rãi, để bệnh nhân nằm đầu thấp và nghiêng đầu cho đờm dãi dễ chảy ra… Sẵn sàng chống ngừng thở, đặt nội khí quản và hô hấp hỗ trợ khi cần.


Nếu trong nhà có siro Ipeca, thì cho nạn nhân uống 30ml, sau đó cho uống khoảng 300ml nước (nếu là trẻ em thì cho dùng một nửa liều này).


Nếu không có thể cho nạn nhân dùng nước đậu xanh giã nát, nước rau muống, khoai lang. Sau đó cần nhanh chóng chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế để được xử trí thích hợp và kịp thời.


Khi phát hiện người bị ngộ độc thuốc ngủ đã bị ngừng tim, ngừng thở, trước tiên phải phục hồi lại chức năng hô hấp, tuần hoàn cho nạn nhân bằng cách hô hấp nhân tạo.


Chú ý: Chỉ xử trí gây nôn khi nạn nhân còn tỉnh. Khi người bị nạn đã nôn ra thì nên giữ lại chất nôn, mang đến bệnh viện xác định chất gây ngộ độc để điều trị bằng chất giải độc phù hợp.


Khi nạn nhân bị hôn mê, cần đặt ở tư thế nằm đầu thấp và nghiêng một bên để tránh tình trạng hít sặc các chất nôn. Không được gây nôn trong trường hợp có co giật, người suy tim nặng, phụ nữ mang thai quá to.


Bác sĩ Hồng Hạnh

Theo tin http://suckhoedoisong.vn



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Quảng Trị - Cách giữ thức ăn an toàn, vệ sinh

(SK&ĐS) – “Bệnh tùng khẩu nhập”, các bà nội trợ cần biết cách bảo quản, chế biến thực phẩm hợp vệ sinh để giữ gìn sức khỏe cho gia đình. 


Nguyên tắc đầu tiên là sạch sẽ: người chế biến thực phẩm phải có bàn tay sạch. Rửa tay trước khi chế biến thực phẩm và cầm thức ăn. Cần chú ý là phải rửa tay đúng cách dưới vòi nước chảy, với xà phòng hoặc dung dịch rửa tay.


Bàn tay bẩn mang rất nhiều vi khuẩn, mầm bệnh trong quá trình làm việc, sinh hoạt. Rửa tay sau khi đi vệ sinh, vệ sinh cho trẻ hoặc tiếp xúc với súc vật lại càng phải chú ý vì đó là những môi trường tiếp xúc với vi khuẩn nhiều nhất. Rửa sạch tất cả các vật dụng chế biến: dao, thớt, nồi… và bề mặt nơi chế biến thức ăn rất quan trọng vì đó chính là môi trường làm cho thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn. Đối với các gia đình ở nông thôn chú ý tránh không cho côn trùng, thú nuôi và các động vật khác vào bếp. Ngay cả các nhà căn hộ khép kín cũng cần chú ý điều này vì thú nuôi làm cảnh trong nhà cũng có thể mang những mầm bệnh do chúng thường chui rúc trong các nơi không đảm bảo vệ sinh.





wpid cach gi 137639264923636


 Cần rửa tay khi chế biến thực phẩm và cầm thức ăn



Cần phải để thức ăn sống và chín riêng biệt trong quá trình nấu nướng, chế biến. Để riêng thịt, cá, gia cầm, hải sản… vào những vị trí nhất định trong các dụng cụ chuyên đựng cho từng loại. Dụng cụ dùng cho chế biến sống và chín phải riêng biệt như: dao, thớt, thau rửa. Thực phẩm dự trữ cho ngay hôm sau phải được đậy kín. Không được để chung thực phẩm sống và chín.


Nguyên tắc thứ hai nấu chín thức ăn: yếu tố quan trọng để tránh những vi khuẩn gây bệnh. Thức ăn phải được nấu chín kỹ, đặc biệt là thịt, trứng, cá, hải sản. Đối với thịt phải đảm bảo nước trong miếng thịt sau khi nấu phải trong, không được có màu hồng. Nấu súp và hầm thực phẩm phải đun thật sôi. Hâm lại thức ăn đã chín phải đun ở nhiệt độ sôi, khuấy đều trong khi hâm.


Một số món ăn cổ truyền sử dụng thực phẩm sống phải được rửa sạch và sát trùng bằng các dung dịch quy định đảm bảo vệ sinh như nước muối, thuốc tím, bể lọc ozon… Nói chung không nên ăn sống, cần phải ăn chín uống sôi để phòng các bệnh cho đường tiêu hóa.


Nguyên tắc thứ ba: giữ thức ăn ở nhiệt độ an toàn. Không giữ thức ăn ở nhiệt độ phòng quá 2 giờ. Không dự trữ thức ăn quá lâu dù ở trong tủ lạnh. Không rã đông thực phẩm đông lạnh ở nhiệt độ phòng. Thức ăn cho người suy giảm miễn dịch tốt nhất là được chế biến ở nơi mát mẻ và không dự trữ sau khi nấu chín. Hiện nay nhiều gia đình có tủ lạnh hoặc tủ đông để bảo quản thực phẩm.


Tuy nhiên, cần phải bố trí hợp lý, nếu không môi trường lạnh không tiêu diệt được vi khuẩn mà chỉ làm chúng nằm im không hoạt động, đến khi đưa ra môi trường sẽ bị nhiễm khuẩn trở lại. Hơn nữa, thức ăn để lâu trong tủ lạnh thường không được tươi ngon, hấp dẫn như những thực phẩm khác.


Nguyên tắc sử dụng nước và thức ăn an toàn: yếu tố quan trọng đảm bảo phòng tránh những bệnh đường ruột do vi khuẩn như thương hàn, tả, tiêu chảy… Dùng nước an toàn hoặc được xử lý an toàn như nước máy, nước giếng đã qua lắng lọc. Tuyệt đối không sử dụng nước không đảm bảo vệ sinh để chế biến thức ăn. Chọn thực phẩm tươi và không bị ô nhiễm, không sử dụng thực phẩm quá hạn. Tiệt trùng hoặc đun sôi nước trước khi uống. Rửa rau và trái cây bằng nước an toàn đặc biệt là các loại ăn sống. Nguồn nước an toàn giúp cho người dân tránh được những bệnh dịch nguy hiểm. Vì thế cần khuyến khích nhân dân sử dụng nước đảm bảo vệ sinh. Tuyệt đối không dùng nước ao tù, kênh rạch để dùng làm nước ăn.


ThS. Nga Anh



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Quảng Trị - Hội nghị nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tuyến xã

Nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân tại các trạm y tế tuyến xã (xã, phường, thị trấn), chiều ngày 9/8, Sở Y tế tổ chức hội nghị đánh giá công tác khám chữa bệnh tại tuyến xã.


Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo sở y tế, Bảo hiểm xa hội tỉnh, lãnh đạo các trung tâm y tế, bệnh viện đa khoa, phòng y tế các huyện thị thành phố trong tỉnh cùng trưởng trạm y tế và các bác sĩ đang công tác tại các trạm y tế trên địa bàn tỉnh.


Trong những năm qua được sự quan tâm của các cấp chính quyền nên hệ thống y tế tuyến xã trên địa bàn tỉnh đạt được những kết quả quan trọng, Các chương trình y tế quốc gia triển khai đạt hiệu quả cao, các chỉ số về sức khỏe của nhân dân trên địa bàn đã có những chuyển biến tích cực. Các dịch bệnh xảy ra trên địa bàn được khống chế và dập tắt kịp thời. Đến nay trên toàn tỉnh có 141 trạm y tế với 745 cán bộ đang công tác, bình quân mỗi xã có từ 5 – 6 cán bộ và có 64% trạm y tế có bác sĩ. Có 16/141 xã đạt chuẩn y tế xã giai đoạn 2 (2011- 2020).


Tuy nhiên, hiện nay y tế xã còn gặp một số khó khăn nhất định như: Chế độ trực của cán bộ y tế xã còn thấp; Năng lực chuyên môn còn hạn chế, kiêm nhiệm nhiều hoạt động nên chất lượng khám chữa bệnh còn khó khăn; Đa số các trạm y tế chưa được đầu tư hệ thống xử lí rác thải, diện tích sử dụng và số phòng chưa đúng theo tiêu chí của Bộ Y tế; Một số xã sau khi được công nhận xã chuẩn quốc gia về y tế xong không quan tâm đầu tư nâng cấp, duy tu bảo dưỡng cơ sở hạ tầng nên ngày càng xuống cấp; Dụng cụ y tế của các trạm được trang cấp từ những năm 2000 đến nay đã lạc hậu, hư hỏng, không đồng bộ; Các máy siêu âm, điện tim, xét nghiệm nước tiểu chưa phát huy hiệu quả.


Để công tác KCB tuyến xã đạt hiệu quả cao, tại hội nghị ngành y tế đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại tuyến xã như: Thực hiện mô hình phòng khám bác sĩ gia đình theo định hướng của Bộ Y tế;  Ứng dụng công nghệ thông tin khám chữa bệnh tại trạm y tế; tăng cường vai trò của đội ngũ nhân viên y tế tuyến xã; Cung cấp các dịch vụ có chất lượng đến tận người dân, Cải cách mạnh mẽ thủ tục khám chữa bệnh,.… nhằm giảm bớt phiền hà cho người dân./.


Thái Dương



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Cao Bằng - Những điều cần biết về bệnh tay chân miệng và cách phòng tránh

Bệnh tay chân miệng lưu hành ở nhiều nước trên thế giới, có xu hướng gia tăng và duy trì ở mức cao trong những năm gần đây tại một số nước. Theo thông báo ngày 02/5/2012 của Tổ chức Y tế thế giới, bệnh tiếp tục được ghi nhận tại các nước Singapore, Nhật Bản, Ma Cao, Hàn Quốc, đặc biệt tại Trung Quốc, Ma Cao, Singapore số bệnh nhân mắc cao gấp 2,9 – 3,3 lần so với cùng kỳ năm 2011.Ở nước ta, từ ngày 01/01 – 14/5 /2012 đã có 46.277 trẻ mắc bệnh tại 63 tỉnh, thành phố; trong đó có 27 trường hợp tử vong, chủ yếu tại các tỉnh phía nam như: An Giang có 7 người tử vong, Thành phố Hồ Chí Minh 5 người. Riêng trong tháng 5/2012 đã có 6.569 trường hợp mắc, 6 trường hợp tử vong.Tại Cao Bằng, từ đầu năm 2012 đến nay toàn tỉnh ta đã có gần 500 trẻ em bị mắc bệnh tay chân miệng tại 12/13 huyện thị, trong đó các huyện có số mắc cao như: Bảo Lạc, Quảng Uyên, Hòa An, Thông Nông. Tình hình dịch bệnh tay chân miệng diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Ban chỉ đạo phòng chống dịch của tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo các huyện, thị tăng cường giám sát tình hình bệnh để có biện pháp ngăn chặn kịp thời, khống chế không để dịch lan rộng.Để ch động phòng chng bnh tay chân ming, người chăm sóc tr cn biết:1. Bnh tay chân ming là gì ?Bệnh tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây từ người sang người, dễ gây thành dịch do vi rút đường ruột gây nên. Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 (EV71).Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não – màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời. Các trường hợp biến chứng nặng thường do EV71 gây ra.Bệnh tay chân miệng hiện chưa có vác xin phòng bệnh và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ.2. Ai có th mc bnh tay chân ming? Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo, đến các nơi trẻ chơi tập trung là các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh, đặc biệt là trong các đợt bùng phát.3. Nhng biu hin chính ca bnh tay chân ming?Thể điển hình của bệnh tay chân miệng được chia thành 4 giai đoạn như sau:* Giai đoạn ủ bệnh: từ 3 – 7 ngày trẻ vẫn bình thường.* Giai đoạn khởi phát: từ 1 – 2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày.* Giai đoạn toàn phát: Có thể kéo dài 3 – 10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh:- Loét miệng:  vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2 – 3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nước bọt.- Phát ban dạng phỏng nước: Ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó có thể để lại vết thâm, rất hiếm khi loét hay bội nhiễm.- Sốt nhẹ và nôn. Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng.- Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh.* Giai đoạn lui bệnh: Thường từ 3 – 5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn.Nếu có biến chứng sẽ trở thành thể tối cấp:  bệnh diễn tiến rất nhanh có các biến chứng nặng như suy tuần hoàn, suy hô hấp, hôn mê dẫn đến tử vong.4. Bnh tay chân ming lây truyn như thế nào ?- Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá. Nguồn lây chính từ nước bọt, phỏng nước, phân của trẻ bbị nhiễm bệnh. Khả năng lay truyền cao nhất trong tuần đầu của bệnh.- Bệnh lây qua tiếp xúc trực tiếp với phân, dịch tiết mũi họng, phỏng nước bị vỡ; tiếp xúc với đồ chơi, sàn nhà, bàn ghế… bị nhiễm vi rút.5. Phòng bnh tay chân ming như thế nào ?Thực hiện 3 sạch: ăn sạch; ở sạch; bàn tay sạch và chơi đồ chơi sạch. - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng dưới vòi nước chảy nhiều lần trong ngày (cả người lớn và trẻ em), đặc biệt trước khi chế biến thức ăn, cho trẻ ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã và làm vệ sinh cho trẻ.- Thực hiện tốt vệ sinh ăn uống: ăn chín, uống chín; vật dụng ăn uống phải đảm bảo được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng; đảm bảo sử dụng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày; không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút đồ chơi; không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn tay,vật dụng ăn uống như cốc, bát, đĩa, thìa, đồ chơi chưa được khử trùng.- Thường xuyên lau sạch các bề mặt, dụng cụ tiếp xúc hàng ngày như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn, ghế, sàn nhà bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường.- Không cho trẻ tiếp xúc với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh.- Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân và các chất thải của bệnh nhân phải được thu gom và đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh.- Khi thấy trẻ sốt và có nốt phỏng nước ở bàn tay, bàn chân hoặc niêm mạc miệng cần cho trẻ nghỉ học và đến ngay cơ sở y tế gần nhất.- Khi chăm sóc trẻ bệnh tại gia đình nếu thấy trẻ có các dấu hiệu như sốt cao kéo dài, li bì, bỏ ăn, uống hoặc tình trạng của trẻ xấu đi cần đưa ngay trẻ đến bệnh viện.                           



Tác giả bài viết: Bs. Thanh Hải



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Cao Bằng - Đoàn công tác Tổng cục Dân số- Kế hoạch hoá gia đình làm việc tại Cao Bằng

Thực hiện chương trình công tác năm 2012, Đoàn công tác Tổng cục Dân số- Kế hoạch hoá gia đình do Đ/c Lê Cảnh Nhạc, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số- KHHGĐ làm Trưởng đoàn đã đến làm việc tại Cao Bằng để kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình.


wpid doan co 137639260751123



Đoàn công tác Tổng cục Dân số-KHHGĐ họp với Ban chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ tỉnh Cao Bằng


Đoàn đã có buổi làm việc với Ban Chỉ đạo Công tác Dân số-KHHGĐ tỉnh, tham dự buổi làm việc có Đ/c Trần Hùng- Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo công tác Dân số-KHHGĐ tỉnh và lãnh đạo các sở, ngành là thành viêc Ban Chỉ đạo Công tác Dân số-KHHGĐ tỉnh; Đoàn công tác đã được Ban Chỉ đạo Công tác Dân số-KHHGĐ tỉnh báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện công tác Dân số-KHHGĐ năm 2011 và quý I năm 2012; Báo cáo tổ chức hệ thống Dân số-KHHGĐ của tỉnh Cao Bằng. Phát biểu tại cuộc họp với Ban Chỉ đạo Công tác Dân số-KHHGĐ tỉnh, Phó Tổng cục trưởng Lê Cảnh Nhạc đã ghi nhận, biểu dương những nỗ lực, cố gắng của tỉnh Cao Bằng trong việc thực hiện triển khai công tác Dân số-KHHGĐ, khẳng định các kết quả đạt được như: giảm tỷ lệ sinh đạt 2,18 (tiệm cận mức sinh thay thế); cơ cấu dân số; quản lý dân cư; các hoạt động truyền thông vùng đồng bào dân tộc, vùng mức sinh cao, nhóm đối tượng khó tiếp cận, tỉnh Cao Bằng làm tốt và có kết quả cao, ít có tỉnh miền núi có khó khăn như Cao Bằng làm được như vậy. Tuy nhiên, với độ tuổi lao động, độ tuổi sinh đẻ đang còn ở mức cao, Cao Bằng vẫn phải tiếp tục nỗ lực, tiếp tục phấn đấu, quan tâm nhiều hơn đến chất lượng dân số. Trước mắt, tập trung các hoạt động thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về Dân số-KHHGĐ, các mô hình: can thiệp làm giảm tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống; mô hình tư vấn và khám sức khoẻ tiền hôn nhân; mô hình giảm sinh con thứ ba trở lên… Đề cập đến hệ thống tổ chức bộ máy, Phó Tổng cục trưởng Lê Cảnh Nhạc đề nghị tỉnh tiếp tục củng cố bộ máy tổ chức làm công tác Dân sô-KHHGĐ; Trung ương sẽ hỗ trợ giảng viên, tài liệu đào tạo, tập huấn cán bộ dân số cơ sở. Cũng trong chuyến công tác tại Cao Bằng, đoàn công tác Tổng cục Dân số-KHHGĐ đã làm việc với Ban Chỉ đạo công tác Dân số-KHHGĐ huyện Hà Quảng, có sự tham gia của 12/19 cán bộ dân số xã. Tại đây, đoàn công tác Tổng cục đã trực tiếp lắng nghe và chia sẻ những ý kiến từ cơ sở, phản ánh về những thuận lợi, khó khăn trong công tác Dân số-KHHGĐ, đặc biệt là công tác truyền thông ở địa bàn cơ sở, vùng đồng bào dân tộc thiểu số./.



Tác giả bài viết: Khánh Duy – Chi cục Dân số-KHHGĐ



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Cao Bằng - Huy động sự vào cuộc của cộng đồng trong công tác phòng chống Sốt rét

wpid huy don 137639259649201



Cán bộ Trạm Y tế xã Sơn Lộ – Bảo Lạc Truyền thông cho bà con nhân dân về các biện pháp phòng chống sốt rét. Ảnh Xuân Trường


Theo thông báo của tổ chức Y tế thế giới mỗi năm có khoảng 250 triệu người mắc sốt rét và 800 triệu người tử vong do sốt rét. Tại Cao Bằng theo báo cáo của Trung tâm phòng chống sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng, toàn tỉnh có 60/199 xã nằm trong vùng có sốt rét lưu hành nặng và vừa; 139 xã nằm trong vùng có nguy cơ tái phát dịch sốt rét. Thực tế đó đã đang đặt ra cho những người làm công tác phòng chống sốt rét cần tích cực chủ động thực hiện các biện pháp để khống chế và đẩy lùi dịch bệnh này. Bảo Lạc, một trong những huyện trọng điểm về sốt rét, tỷ lệ mắc sốt rét cao và có nhiều nguy cơ bùng phát dịch. Toàn huyện có 17/17 xã, thị trấn nằm trong vùng sốt rét lưu hành. Năm 2012 đã có 321 bệnh nhân sốt rét, trong đó có 04 bệnh nhân có ký sinh trùng sốt rét dương tính. Bên cạnh đó, số dân di cư biến động khó kiểm soát nên nguy cơ xảy ra dịch sốt rét vẫn còn tiềm ẩn. Trước những diễn biến phức tạp của dịch sốt rét, Trung tâm y tế huyện Bảo Lạc đã tích cực triển khai nhiều biện pháp để chủ động phòng, chống dịch sốt rét. Nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền và các ban ngành, đoàn thể phối hợp với cán bộ y tế cơ sở đẩy mạnh công tác truyền thông phòng chống sốt rét, chủ động triển khai kế hoạch giám sát dịch tễ sốt rét, tăng cường giám sát véc tơ trên địa bàn, nhất là các vùng trọng điểm và các ổ dịch cũ. Những năm gần đây trên địa bàn huyện Bảo Lạc tỷ lệ bệnh nhân sốt rét giảm rõ rệt. Năm 2012 bệnh nhân sốt rét giảm 5,2% so với năm 2011, không có dịch sốt rét xảy ra, không có tử vong do sốt rét. Đặc biệt, tại các địa bàn lâu nay được xem là “ điểm nóng” về bệnh sốt rét như: Sơn Lộ, Sơn Lập, Huy Giáp, Hưng Đạo … Số lượng người mắc sốt rét đã giảm mạnh. Những năm qua Trung tâm phòng chống Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng tỉnh đã củng cố mạng lưới phòng chống sốt rét từ tuyến tỉnh đến cơ sở. Triển khai các hoạt động truyền thông về phòng chống bệnh sốt rét, tâp huấn nâng cao kỹ năng cho cán bộ phụ trách chương trình sốt rét ở tuyến huyện, xã và nhân viên y tế thôn bản. Tăng cường giám sát dịch bệnh, phát hiện và ngăn chăn kịp thời những nơi có nguy cơ xảy ra dịch. Cung ứng đầy đủ thuốc, vật tư hóa chất cho công tác chẩn đoán, điều trị bệnh nhân sốt rét tại tuyến y tế cơ sở. Công tác phòng chống sốt rét đã đạt được các mục tiêu cơ bản, không có dịch sốt rét xảy ra, không có trường hợp nào tử vong do sốt rét. Tuy nhiên tình hình sốt rét trên địa bàn tỉnh vẫn có chiều hướng diễn biến phức tạp. Năm 2012, toàn tỉnh đã phát hiện và điều trị cho 1.456 bệnh nhân sốt, trong đó có 38 bệnh nhân có ký sinh trùng sốt rét dương tính, giảm 15,5% so với năm 2011; Xét nghiệm 21.453 lam kí sinh trùng sốt rét, đạt 143% kế hoạch, gần 140.000 dân số được bảo vệ bằng hóa chất, số bệnh nhân sốt rét giảm 5,5% so với năm 2011. Theo Bác sĩ Lê Xuân Thọ – Giám đốc Trung tâm phòng chống sốt rét – Ký sinh trùng – Côn Trùng tỉnh, khó khăn lớn nhất hiện nay trong công tác phòng, chống sốt rét là các điểm kính xét nghiệm sốt rét tại các đồn biên phòng hoạt động không thường xuyên; cán bộ chuyên trách sốt rét ở tuyến huyện xã thay đổi hàng năm nên việc phối hợp thực hiện triển khai hoạt động, đặc biệt là kỹ năng sàng lọc, chẩn đoán bệnh sốt rét còn hạn chế việc, giám sát dịch tễ ở cơ sở còn lỏng lẻo, bên cạnh đó số dân di cư tự do đi từ vùng sốt rét lưu hành nặng về bị nhiễm kí sinh trùng sốt rét, đây là nguồn bệnh làm cho dịch sốt rét lan rộng. Ngày thế giới phòng, chống sốt rét năm nay với chủ đề “Đầu tư cho tương lai, đánh bại bệnh sốt rét”. Mục tiêu là khống chế tỷ lệ mắc dưới 0,15/1.000 dân; tỷ lệ tử vong dưới 0,02/100.000 dân; giảm tỷ lệ mắc bệnh sốt rét tại các vùng có bệnh sốt rét lưu hành nặng, không để dịch sốt rét xảy ra, không có tử vong do sốt rét. Phấn đấu loại trừ bệnh sốt rét vào năm 2030. Để đạt được mục tiêu này cần có sự tham gia đồng bộ của các cấp chính quyền, quan tâm đầu tư thỏa đáng, thực hiện chính sách ưu tiên đặc biệt trong lĩnh vực phòng, chống sốt rét, sự phối hợp chặt chẽ của cấp ủy Đảng, chính quyền và các đoàn thể trong việc quản lý dân di cư tự do. Đối với người đi từ vùng sốt rét lưu hành nặng về cần theo dõi chặt chẽ sức khỏe và lấy lam máu xét nghiệm tìm ký sinh trùng sốt rét. Đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng trọng điểm sốt rét. Phát triển điểm kính xét nghiệm sốt rét tại phòng khám đa khoa khu vực, điểm kính liên xã. Tăng cường kĩ thuật viện xét nghiệm và nâng cấp phòng xét nghiệm tại các phòng khám đa khoa khu vực. Bệnh sốt rét là một căn bệnh nguy hiểm nhưng hoàn toàn có thể chữa khỏi nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Để phòng bệnh, những người đi vào vùng có nguy cơ mắc bệnh sốt rét có thể uống thuốc dự phòng theo đúng hướng dẫn; ngủ màn tẩm hóa chất diệt muỗi, kể cả ban ngày. Không để muỗi đốt bằng cách mặc quần áo dài tay vào lúc chiều tối; bôi thuốc, đốt nhang xua muỗi. Diệt muỗi, lăng quăng, vệ sinh nhà, môi trường xung quanh sạch sẽ.



Tác giả bài viết: Mai Hoa



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Cao Bằng - Hiệu quả Đề án "cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ bệnh viện tuyến dưới

wpid hieu qu 137639258735095



Mổ lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa Bảo Lạc – Ảnh Đức Giang


Nhằm tăng cường chuyển giao kỹ thuật, bồi dưỡng đào tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ y tế tuyến dưới để từ đó nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, góp phần giảm thiểu tình trạng quá tải cho các bệnh viện tuyến trên. Năm 2008 Bộ Y tế đã triển khai Đề án 1816 về việc “Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh’’ đây là một chủ trương lớn, được lãnh đạo ngành y tế chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt. Sở Y tế Cao Bằng đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện đề án cấp ngành và tham mưu cho Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 20/2010/NQ-HĐND ngày 09 tháng 7 năm 2010, ban hành chính sách hỗ trợ cán bộ y tế luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ bệnh viện tuyến dưới, nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh giai đoạn 2010 – 2015 . Sau gần 2 năm thực hiện Nghị quyết, nhân dân các địa phương nhất ở các huyện, các xã vùng sâu, vùng xa đã có điều kiện tiếp cận với những phương pháp khám chữa bệnh hiện đại và phương tiện kỹ thuật tiên tiến đem lại hiệu quả cao. Hiện nay, Cao Bằng có 02 Bệnh viện đa khoa, 01 Bệnh viện y học cổ truyền, thuộc tuyến tỉnh với 480 giường bệnh và 13 Bệnh viện đa khoa tuyến huyện với 967 giường bệnh. Những năm qua, cùng với việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật và đào tạo đội ngũ cán bộ, công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, chất lượng khám, chữa bệnh vẫn còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. Nguyên nhân một phần là do thiếu đội ngũ cán bộ y tế có trình độ chuyên môn sâu, cán bộ y tế tuyến huyện và xã vừa thiếu, vừa yếu chưa phát huy hết hiệu quả, công suất sử dụng trang thiết bị y tế hiện có. Mặt khác, do tác động của cơ chế thị trường nên một số cán bộ y tế có tay nghề và sinh viên mới ra trường không muốn trở về địa phương, đặc biệt tuyến huyện, xã vùng sâu, vùng xa tình trạng thiếu hụt cán bộ y tế càng trầm trọng. Do đó, việc cử cán bộ y tế luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ bệnh viện tuyến dưới có ý nghĩa hết sức quan trọng đây vừa là cách bồi dưỡng đào tạo tại chỗ thông qua những công việc hàng ngày đồng thời cũng là dịp để cán bộ tuyến trên có dịp cọ sát với cơ sở và trực tiếp khám chữa bệnh cho nhân dân. Bệnh viện đa khoa tỉnh và Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh đã triển khai hỗ trợ chuyên môn cho các bệnh viện tuyến huyện là Bệnh viện đa khoa Phục Hòa, Trà Lĩnh, Bảo Lâm, Hạ Lang, Trùng Khánh. 20 lượt cán bộ đã luân phiên trực tiếp đến hỗ trợ cho cơ sở . Trong thời gian đến công tác tại bệnh viện tuyến huyện, các y, bác sỹ vừa trực tiếp thao tác thực hành vừa hướng dẫn chuyển giao công nghệ và kỹ thuật chuyên ngành như: hướng dẫn sử dụng máy điện tim và cách ghi điện tim; kỹ thuật đặt nội khí quản cấp cứu suy hô hấp; hướng dẫn bù Kali cho bệnh nhân suy tim; rối loạn điện giải; xử lý cấp cứu hôn mê trên bệnh nhân tai biến mạch máu não; kỹ thuật hút đờm, chăm sóc bệnh nhân hôn mê, kỹ thuật siêu âm sản phụ khoa, siêu âm tổng quát, kỹ thuật đọc phim; cách phát hiện vàng da sơ sinh…Củng cố kỹ thuật khâu tầng sinh môn bằng chỉ tự tiêu luồn dưới da, hướng dẫn sử dụng máy truyền dịch, bơm tiêm điện. Cách dùng máy điện châm; cách sử dụng các loại thuốc nam sẵn có tại địa phương… Bốn bệnh viện đa khoa tuyến huyện là Hòa An, Trùng Khánh, Bảo Lạc, Quảng Uyên đã cử 15 cán bộ hỗ trợ cho 15 Trạm Y tế xã, trực tiếp khám chữa bệnh cho trên 2.500 lượt bệnh nhân. Dựa trên nhu cầu của từng bệnh viện, các cán bộ luân phiên đã hướng dẫn, đào tạo và giúp đỡ cơ sở nâng cao kiến thức y học, kỹ năng thực hành và trình độ nghiệp vụ chuyên môn từng bước nâng cao chât lượng khám, chữa bệnh. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng nhờ sự giúp đỡ của các bệnh viện tuyến trên và sự cố gắng của đội ngũ cán bộ y tế cơ sở, trong 2 năm qua công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân đã có bước chuyển biến rõ rệt, hầu hết các bệnh viện đã triển khai được kỹ thuật mới, bà con nhân dân các địa phương, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, đã được tiếp cận với các dịch vụ y tế kỹ thuật cao, số bệnh nhân vượt tuyến đã giảm dần. Hiệu quả từ việc thực hiện nghị quyết số 20/2010/NQ – HĐND tỉnh về thực hiện chính sách hỗ trợ cán bộ y tế luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về luân phiên hỗ trợ bệnh viện tuyến dưới đã thực sự đi vào cuộc sống.



Tác giả bài viết: Bác sĩ Lục Văn Đại, Tỉnh ủy viên – Giám đốc Sở Y tế



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Cao Bằng - Sở Y tế: Kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết số 14/2012 của HĐND tỉnh về giá một số dịch vụ khám, chữa bệnh

Thực hiện Chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 10/9/2012 của Bộ Y tế về việc tăng cường thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh sau khi điều chỉnh giá dịch vụ y tế tại các cơ sở y tế công lập. Ngày 04/5/2013, đoàn công tác gồm: Sở Y tế, Sở Tài chính và Bảo hiểm xã hội tỉnh đã đi kiểm tra việc thực hiện giá một số dịch vụ khám, chữa bệnh theo Nghị quyết số 14/2012/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh tại Bệnh viện đa khoa huyện Thạch An. Tại Bệnh viện đa khoa huyện Thạch An khung giá viện phí mới đã được triển khai đến toàn thể y, bác sỹ, cán bộ viên chức từ đó phổ biến cho bệnh nhân và những người đến khám chữa bệnh hiểu rõ sự cần thiết của việc tăng giá một số dịch vụ y tế là yêu cầu khách quan nhằm góp phần bảo đảm nguồn lực để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Đồng thời niêm yết công khai danh mục, bảng giá viện phí mới tại khoa khám bệnh, để người bệnh và gia đình người bệnh dễ theo dõi, tìm hiểu. Đổi mới quy trình đón tiếp bệnh nhân; bố trí thêm bàn khám bệnh, đầu tư trang bị thêm 10 giường bệnh và 30 tủ đầu giường cho Khoa Nội – Nhi, Khoa Ngoại, Khoa Sản và may thêm quần áo cho bệnh nhân…tạo điều kiện tốt nhất để hỗ trợ người bệnh, không tạm thu đối với người có thẻ bảo hiểm y tế, không để người bệnh phải mua thêm thuốc ngoài và các vật tư tiêu hao…  Sau 8 tháng triển khai thực hiện, số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị không giảm mà còn tăng hơn thời gian trước, không có ý kiến thắc mắc nào của người bệnh hoặc gia đình người bệnh xung quanh giá khám bệnh, chữa bệnh mới. Lãnh đạo bệnh viện đã kiến nghị cần bổ sung giá một số dịch vụ kỹ thuật đã triển khai nhưng chưa được quy định trong Nghị quyết số 14/2012 của HĐND tỉnh nên chưa có đủ điều kiện để thanh toán BHYT, như: đỡ đẻ sinh đôi, xét nghiệm đường huyết mao mạch, chảy máu đông, định nhóm máu ABO.  



Tác giả bài viết: Mai Hoa



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Lạng Sơn - Trung tâm CSSK sinh sản thực hiện tốt công tác phòng chống suy dinh dưỡng TE

 


 

 

Theo nhận định của các chuyên gia về dinh dưỡng, đối với vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc ít người, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em vẫn còn cao, do chế độ dinh dưỡng không hợp lý, do phương pháp chế biến thức ăn cho trẻ chưa đảm bảo, do điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn. Để có thể giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở những vùng khó khăn, cần có các giải pháp đồng bộ từ các nhà quản lý cũng như các cán bộ chuyên môn. Đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo cho đồng bào vùng cao, vùng xa, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn, cung cấp thông tin về các biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, tăng cường hướng dẫn các bà mẹ kỹ năng chăm sóc trẻ và thực hành chế biến thức ăn cho trẻ dưới 5 tuổi. 

            Trước tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em cũng như kiến thức của người dân về dinh dưỡng còn hạn chế, ngay từ khi mới được giao vai trò trách nhiệm là thường trực chương trình mục tiêu phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản đã làm tốt công tác tham mưu cho các cấp chính quyền địa phương, thành lập ban chỉ đạo phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, tổ chức đào tạo giảng viên cho cán bộ của Trung tâm và các đội báo vệ bà mẹ trẻ em huyện để tổ chức đào tạo, tập huấn cho các trưởng trạm, chuyên trách chương trình của các xã và các cộng tác viên dinh dưỡng. Thời gian đầu chính trực tiếp cán bộ của Trung tâm chăm sức khoẻ sinh sản vừa thực hiện tuyên truyền, thực hành tô màu bát bột vừa thực hiện tập huấn cho các cán bộ y tế xã huyện. Song song với công tác đào tạo tập huấn, giải pháp hữu hiệu mà Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản tỉnh Lạng Sơn áp dụng có hiệu quả nhằm khắc phụ khó khăn là tăng cường tư vấn dinh dưỡng tại cơ sở thông qua nhiều hình thức khác nhau như truyền thông lồng ghép, tư vấn tại gia đình, tư vấn dinh dưỡng tại các đợt khám chữa bệnh, tiêm chủng mở rộng với hàng trăm buổi tư vấn và hàng nghìn tờ rơi được phát. Hiệu quả đem lại chính là nhận thức của cấp ủy, chính quyền và người dân đã được cải thiện và nâng lên một cách rõ dệt. Đến nay cơ bản trình độ năng lực của các cán bộ phụ trách dinh dưỡng tuyến xã, huyện đã được nâng lên một cánh đáng kể, đáp ứng cơ bản yêu cầu đặt ra từ khâu lập kế hoạch và tổ chức tuyên truyền phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, hướng dân thực hành tô màu bát bột.  

            Nhờ có đủ đội ngũ cộng tác viên dinh dưỡng, có hệ thống đội chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em tuyến huyện, thành phố, cùng với sự vào cuộc của các ban ngành các cấp thông qua nghị quyết, chỉ thị của ban chỉ đạo phòng chống suy dinh dưỡng, các hoạt động về phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em ngày càng thực hiện đạt chất lượng và hiệu quả cao hơn góp phần giám tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng chiều cao trên tuổi giảm dần qua các năm, từ 33,9% năm 2008, xuống còn 32,1% năm 2009 và 31% năm 2010. Đặc biệt trong năm 2010 có 3 xã có tỷ lệ suy dinh dưỡng dưới 10% đạt mức an toàn dinh dưỡng, số xã tỷ lệ suy dinh dưỡng dưới 20% tăng, số xã tỷ lệ suy dinh dưỡng trên 20% giảm so với những năm trước.

            Để đạt được kết quả đó, hàng năm Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản đã chỉ đạo hơn 238 cán bộ chuyên trách, 2333 cộng tác viên tuyến thôn bản trong toàn tỉnh thực hiện tích cực các hoạt động tư vấn dinh dưỡng, truyền thông nhóm, truyền thông qua loa truyền thanh và hướng dẫn thực hành dinh dưỡng tới toàn thể phụ nữ có thai và bà mẹ có con dưới 5 tuổi. Đồng thời thực hiện cân trẻ, chấm biểu đồ, đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ trong độ tuổi thuộc diện địa bàn quản lý. Theo đó hàng tháng cân trẻ, chấm biểu đồ tăng trưởng cho trẻ dưới 2 tuổi, mỗi năm 2 lần cân trẻ dưới 5 tuổi. Hàng năm tỷ lệ cân trẻ, đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng đạt từ 95 – 98% trẻ dưới 5 tuổi. 100% phụ nữ có thai và bà mẹ nuôi con dưới 5 tuổi đều được tư vấn, tuyên truyền về phòng chống và phục hồi suy dinh dưỡng ở trẻ, từ đó thường xuyên cải thiện dinh dưỡng cho trẻ qua từng bữa ăn hàng ngày, đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Góp phần vào thành công của toàn tỉnh trong công tác phòng chống suy dinh dưỡng, cải thiện tầm vóc con người trên địa bàn.

      Dinh dưỡng có vai trò rất lớn đối với sức khỏe con người. Con người ta sống và phát triển chủ yếu là do thức ăn được cung cấp hàng ngày, chuyển hóa thành các chất dinh dưỡng đi nuôi cơ thể. Chế độ dinh dưỡng đầy đủ sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh, tránh được bệnh tật. Những năm gần đây, Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản luôn thể hiện đúng với vai trò là đơn vị đầu mối phối hợp với các đơn vị trong và ngoài ngành y tế tổ chức, triển khai các hoạt động của chương trình trên quy mô toàn tỉnh. Tuy nhiên cũng có những khó khăn làm hạn chế đến hiệu quả chung của công tác phòng chống suy dinh dưỡng như cán bộ phụ trách chương trình phòng chống suy dinh dưỡng chưa thực hiện tốt công tác tham mưu, còn làm việc kiêm nhiệm. Mạng lưới cộng tác viên là những người thực hiện các hoạt động chủ yếu tới đối tượng đích, có tác động trực tiếp làm giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng trong 3 năm trở lại đây không có kinh phí hỗ trợ. Thiết bị, công cụ truyền thông còn thiếu… 

         Phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục khó khăn tồn tại, với sự quan tâm của các cấp uỷ đảng chính quyền, các ban nghành đoàn thể cùng sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên chức Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản, đội ngũ cộng tác viên dinh dưỡng, công tác phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em sẽ đạt được những kết quả cao hơn góp phần vào thành công trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

 

                                                                                           Minh Mạnh

 

 

 

 

 
                                                    


 



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Thái Bình - Tiền Hải: Hỗ trợ 100% tiền giống đậu tương đông cho nông dân.

Vụ đông 2010, Tiền Hải phấn đấu trồng trên 3.500 ha cây vụ đông, trong đó có 1.000 ha cây đậu tương trên đất 2 lúa. Để đạt được mục tiêu đề ra, Tiền Hải đã đi trước một bước trong các khâu chuẩn bị, như triển khai kế hoạch sản xuất vụ mùa gắn với vụ đông, đồng thời có chủ trương hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất.

 


Vụ đông 2010, Tiền Hải phấn đấu trồng trên 3.500 ha cây vụ đông, trong đó có 1.000 ha cây đậu tương trên đất 2 lúa. Để đạt được mục tiêu đề ra, Tiền Hải đã đi trước một bước trong các khâu chuẩn bị, như triển khai kế hoạch sản xuất vụ mùa gắn với vụ đông, đồng thời có chủ trương hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất.


Trong Hội nghị tổng kết và triển khai kế hoạch, huyện dành nhiều thời gian bàn các biện pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lúa mùa, đưa tỷ lệ diện tích mùa cực sớm tăng hơn so với vụ mùa 2009 để sau thu hoạch lúa có đủ quỹ đất trồng cây ưa ấm. Huyện chỉ đạo các xã có nhiều diện tích cây đậu tương đông 2009 và đạt hiệu quả cao báo cáo kinh nghiệm chỉ đạo sản xuất. Huyện cũng biểu dương khen ngợi các thôn, xã trồng nhiều cây vụ đông, trong đó có diện tích đậu tương chiếm tỷ lệ cao.


Đồng thời với công tác tuyên truyền trên loa truyền thanh, trong Hội nghị báo cáo viên về kết quả gieo trồng đậu tương đông 2009 và quyết tâm của huyện về sản xuất vụ đông 2010, Tiền Hải đã chỉ đạo các xã Nam Hồng, Vân Trường và một số xã gieo trồng 150 ha đậu tương hè thu làm giống cho vụ đông. Đậu tương đang chuẩn bị bước vào thu hoạch, Tiền Hải đã quyết định mua lại toàn bộ giống để cân đối trong toàn huyện. Theo ước tính, số đậu tương giống cho vụ đông huyện có thể bảo đảm được 65% – 70%. Số còn lại, huyện chỉ đạo phòng Nông nghiệp -PTNT liên hệ mua giống cho các HTX DVNN có đăng ký. Toàn bộ số tiền giống mua của nông dân trong huyện và mua thêm của Công ty Giống cây trồng ước khoảng 2 tỷ đồng.


Tiền Hải sẽ sử dụng ngân sách mua và cấp 100% giống hỗ trợ cho nông dân. Với cơ sở, Tiền Hải chỉ đạo các xã, HTX DVNN, ngoài việc miễn thuỷ lợi phí tưới tiêu, bảo vệ thực vật, phải dành kinh phí tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc đậu tương đông cho các hộ nông dân khi vào mùa gieo trồng mới./.


Tin: Hoàng Duy


Ảnh: Thành Tâm


 



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Đà Nẵng - TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TÁC KHÁM BỆNH VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KHÁM, CHỮA BỆNH

Nhằm tăng cường các điều kiện phục vụ người bệnh, rút gọn thời gian chờ đợi khám chữa bệnh, giảm thủ tục phiền hà cho người bệnh và nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh của bệnh viện, trong thời gian qua Bộ Y tế đã ban hành một số văn bản có liên quan như Chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 10/9/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc tăng cường thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh sau khi điều chỉnh giá dịch vụ y tế và Quyết định số 1313/QĐ-BYT ngày 22/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn quy trình khám bệnh tại khoa khám bệnh của bệnh viện.


Nhằm tăng cường thực hiện các quy định về công tác khám bệnh và nâng cao hơn nữa công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn thành phố, ngày 01/8/2013 Sở Y tế thành phố Đà Nẵng đã có Công văn chỉ đạo các bệnh viện trực thuộc, các bệnh viện tư nhân trên địa bàn thành phố tiếp tục khẩn trương phổ biến đến cán bộ, viên chức, người lao động trong đơn vị về Quyết định 1313/QĐ-BYT và Chỉ thị 05/CT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế. Sở Y tế thành phố yêu cầu các đơn vị triển khai thực hiện đúng hướng dẫn của Bộ Y tế về quy trình khám bệnh tại khoa khám bệnh của bệnh viện. Mỗi bệnh viện phải có quy định cụ thể quy trình khám bệnh của bệnh viện để công khai cho người bệnh và cán bộ, viên chức biết, thực hiện.


            Cũng trong thời gian từ ngày 01/8/2013 đến ngày 12/8/2013 các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế và các bệnh viện tư nhân trên địa bàn thành phố sẽ tổ chức đánh giá việc triển khai thực hiện quy trình khám bệnh tại khoa khám bệnh của bệnh viện theo hướng dẫn tại Quyết định số 1313/QĐ-BYT và việc tăng cường thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh theo Chỉ thị số 05/CT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế. Qua công tác kiểm tra, đánh giá sẽ làm cơ sở để các bệnh viện hoàn thiện quy trình khám bệnh, tăng cường áp dụng các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân.


 


            (Xuân Trường)



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Hà Tĩnh - Khuyến cáo phòng chống cúm A(H7N9) tại cộng đồng (16/04/2013)

1. Thường xuyên rửa tay với xà phòng. Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, nơi ở thông thoáng, hạn chế tiếp xúc với người bệnh.
         

2.
Không sử dụng gia cầm, sản phẩm của gia cầm không rõ nguồn gốc. Đảm bảo an toàn thực phẩm.
         

3.
Khi phát hiện có gia cầm ốm, chết phải báo ngay cho chính quyền địa phương và đơn vị thú y trên địa bàn.
         

4.
Khi có các biểu hiện cúm như: sốt, ho, đau ngực, khó thở cần đến ngay cơ sở y tế để được tư vấn, khám, điều trị kịp thời.
         

5.
Người trở về nước từ khu vực có bệnh phải áp dụng các biện pháp phòng bệnh, khai báo tình trạng sức khỏe cho cơ quan y tế địa phương để được theo dõi sức khỏe.
                                                                                 

Nguồn Trung tâm Truyền thông GDSK Trung ương


 



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Hà Tĩnh - Tập huấn hệ thống mạng và phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu dân số MIS 2011

Ngày 16/1/2013, Chi cục Dân số – KHHGĐ Hà Tĩnh đã khai mạc lớp tập huấn “Hệ thống mạng và phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu Dân số MIS2011” cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân số cấp huyện.
o lu


Các học viên tham gia lớp tập huấn


Trong 4 ngày tập huấn, học viên sẽ được trang bị kiến thức về hệ thống mạng và nâng cao kỹ năng nghiệp vụ thống kê, sử dụng và khai thác phần mềm MIS2011H trong báo cáo chuyên ngành dân số – KHHGĐ; tập trung vào việc thiết lập cầu hình hệ thống mạng Lan cấp huyện, hướng dẫn cài đặt, quản trị CSDL và SQL Server cơ bản, văn bản liên quan đến công tác thống kê chuyên ngành, hướng dẫn sử dụng và khai thác thông tin phần mềm MIS2011H, tổng hợp số liệu… Đồng thời các giảng viên của Chi cục cũng sẽ dành thời gian giải đáp những thắc mắc, các lỗi thường gặp trong quá trình làm việc của học viên và đưa ra cách khắc phục.


Qua lớp tập huấn, các học viên có cơ hội thảo luận, trao đổi kinh nghiệm, bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng, sử dụng có hiệu quả phần mềm MIS2011H. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho ngành Dân số – KHHGĐ quản lý hộ gia đình trên địa bàn dân cư, củng cố kiện toàn và đẩy mạnh tin học hoá hệ thống thông tin quản lý, cơ sở dữ liệu chuyên ngành trên cơ sở tổ chức hệ thống thu thập thông tin biến động đầy đủ, kịp thời và chính xác.


Thuỳ Dương – Đặng Huyền

Chi cục Dân số/KHHGĐ Hà Tĩnh



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Hà Tĩnh - Khám, chữa bệnh miễn phí tại xã Sơn Mai huyện Hương Sơn (10/12/2012)

Thiết thực chào mừng Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X và hành trình nhân ái vì sức khỏe cộng đồng với chủ đề "Thầy thuốc trẻ làm theo lời Bác – tình nguyện vì sức khỏe cộng đồng" do Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam phát động, ngày 8/12, Tỉnh đoàn, Hội Thầy thuốc trẻ tỉnh, Đoàn cơ sở Bệnh viện Đa khoa tỉnh và huyện đoàn Hương Sơn đã phối hợp với Chi nhánh Viettel Hà Tĩnh tổ chức khám, cấp thuốc miễn phí cho đối tượng chính sách và hộ nghèo xã Sơn Mai (Hương Sơn).
hs


Cấp phát thuốc miến phí cho nhân dân xã Sơn Mai – Hương Sơn


Chương trình có sự tham gia của 20 y, bác sỹ. Trong thời gian một ngày, đã khám, chẩn đoán và cấp thuốc điều trị cho 150 người dân xã Sơn Mai. Bên cạnh đó đoàn cũng đã tư vấn cho người dân một số cách phòng tránh các bệnh về hô hấp, cảm cúm, tiêu chảy…. Cũng nhân dịp này đoàn đã phối hợp với huyện đoàn Hương Sơn tổ chức hiến máu nhân đạo với chủ đề “Một giọt máu cho đi, một cuộc đời ở lại” đã thu hút được đông đảo đoàn viên thành niên huyện nhà tham gia. Qua chiến dịch đã có hơn 100 đơn vị máu được hiến tặng.


Cùng với các hoạt động trên, Hội thầy thuốc trẻ cũng đã phối hợp với Khoa cấp cứu – Bệnh viện đa khoa tỉnh tổ chức tập huấn công tác sơ, cấp cứu ban đầu cho 80 đồng chí giáo viên – tổng phụ trách đội, chủ tịch hội đồng đội các xã, thị trấn huyện Hương Sơn với mục đích đồng hành với sức khỏe cộng đồng, tuổi trẻ hành động vì an sinh xã hội.


Tin, ảnh: Tuấn Dũng



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Hà Tĩnh - Trung tâm Da liễu tỉnh Hà Tĩnh: Đẩy lùi bệnh phong ra khỏi cộng đồng (18/12/2012)

Với nhiệm vụ chuyên môn phòng bệnh, khám, điều trị bệnh phong và các bệnh da liễu. Trung tâm Da liễu Hà Tĩnh đang tích cực xóa bỏ ám ảnh về căn bệnh xưa nay vốn bị coi là “vô phương cứu chữa”, trở thành địa chỉ tin cậy của người dân trên địa bàn tỉnh.


Bệnh phong (dân gian thường gọi là bệnh cùi hay bệnh hủi) là bệnh không gây chết người nhưng sẽ gây tàn tật nếu phát hiện và điều trị muộn. Các nạn nhân của căn bệnh này thường gánh chịu nhiều thành kiến xã hội, bị xa lánh, cô lập, và thậm chí bị hắt hủi. Thế nhưng, với sự phát triển của nền y học hiện đại, đây là căn bệnh có thuốc, phác đồ điều trị, ngày nay có thể chữa khỏi hoàn toàn. Bên cạnh đó, sự nhẫn nại, thấu hiểu và chia sẻ cảm thông với người bệnh của lực lượng y, bác sỹ làm công tác phòng chống phong là “chìa khóa” giúp bệnh nhân yên tâm khi lựa chọn nơi đây là điểm đến điều trị. Bệnh nhân Nguyễn Thị Hoa, sinh năm 1971, trú tại Mỹ Hòa, Cẩm Hòa, Cẩm Xuyên cho biết: “ Nhờ kênh trạm y tế xã tuyên truyền và khám sàng lọc. Tôi được phát hiện sớm bị mắc bệnh phong với dấu hiệu đám da trên cùi tay thay đổi màu sắc, mất cảm giác. Từ tháng 4/2012, bắt đầu điều trị tại Trung tâm da liễu tỉnh, sau 6 tháng tuân thủ phác đồ điều trị, tôi đã khỏi hoàn toàn. Lúc đầu tôi hoang mang lắm nhưng nhờ sự động viên chia sẻ và điều trị tận tình của y bác sĩ nơi đây mà tôi yên tâm chữa bệnh”.


phong

Bác sỹ Trung tâm Da liễu tỉnh khám, chẩn đoán nhằm phát hiện bệnh nhân phong

mới đưa vào quản lý và điều trị tại huyện Lộc Hà.


Bệnh nhân Hà Văn Thiết, trú tại xã Kỳ Thượng, Kỳ Anh, sinh năm 1950, ban đầu xuất hiện hiện tượng bị loét ổ gà ở gan bàn chân, cẳng tay, còn cẳng chân xuất hiện đám trắng đỏ, không có cảm giác, cho biết thêm: “Tôi được các bác sỹ ở đây thăm khám và điều trị thường xuyên, được cấp thuốc miễn phí nên sau một thời gian ngắn, căn bệnh của tôi được chữa khỏi hẳn”. Với kết quả xét nghiệm cho thấy không còn vi khuẩn phong. Sau 12 tháng điều trị, bệnh nhân Thiết đã khỏi bệnh hoàn toàn.


Bác sĩ Diệp Xuân Thảo – Giám đốc Trung tâm Da liễu cho biết: Hàng năm, được sự chỉ đạo, giám sát của Sở Y tế, Trung tâm Da liễu tỉnh phối kết hợp tốt với hệ thống y tế tuyến dưới chú trọng công tác truyền thông nâng cao hiểu biết cho người dân về bệnh phong. Đem kiến thức phong vào giáo dục ở 45 nhà tr­ường tại các xã có bệnh nhân phong. Tuyên truyền về bệnh phong qua thông tin quảng cáo phát trên truyền hình tỉnh và tuyên truyền d­ưới nhiều hình thức khác nh­ư: nói chuyện, phát tờ rơi, tranh ảnh, truyền thông trên loa truyền thanh của xã, phường. Qua đó người dân nhận biết các dấu hiệu bệnh phong, tự đến cơ sở y tế khám và điều trị. Khám phát hiện sớm bệnh nhân tiềm ẩn trong cộng đồng, tập trung nhất tại các xã trọng điểm hàng năm thường phát hiện bệnh nhân phong mới bằng hình thức: điều tra cơ bản, khám tiếp xúc, khám nhóm, khám phối hợp với các chuyên khoa khác.


phong 1

Một lớp tập huấn nâng cao kiến thức loại trừ bệnh phong cho Y tế cơ sở tại Nghi Xuân


Hiện nay, Trung tâm da liễu đã đa hóa trị liệu 100% bệnh nhân đúng phác đồ của Tổ chức Y tế thế giới. Phát hiện và điều trị kịp thời các trường hợp phản ứng trong và sau điều trị không để tàn tật thêm. Quản lý, hướng dẫn và chăm sóc 100% bệnh nhân có tàn tật, cung cấp các dịch vụ chăm sóc tàn tật cho bệnh nhân có nhu cầu. Với những nỗ lực đó, năm 2011, Trung tâm khám sàng lọc cho các bệnh nhân đạt 102% kế hoạch năm. Riêng 9 tháng đầu năm 2012, trung tâm đã tiến hành khám sàng lọc 192.152 bệnh nhân, đạt 68,6 % kế hoạch năm. Phát hiện 1 bệnh nhân phong mới không bị tàn tật, số bệnh nhân điều trị đa hóa trị liệu là 2, có 7 bệnh nhân được giám sát sau đa hóa trị liệu. Chăm sóc tàn tật sau giám sát là 43 bệnh nhân. Cũng trong 9 tháng đầu năm, Trung tâm đã khám và điều trị cho 6.512 lượt bệnh nhân mắc bệnh ngoài da.


Bác sĩ Thảo cho biết thêm, quan niệm về bệnh phong hiện thay đổi cơ bản trong mỗi người dân của tỉnh Hà Tĩnh. Cộng đồng có kiến thức cơ bản về bệnh phong, tỷ lệ bệnh nhân phong mới tự phát hiện là chủ yếu. Tất cả bệnh nhân phong được phát hiện đều được điều trị kịp thời, đúng phác đồ. Bản thân người bệnh biết cách tự chăm sóc và phòng ngừa tàn tật. Người bệnh sống hòa nhập cộng đồng, không bị phân biệt đối xử.


Do làm tốt công tác phòng chống bệnh phong, hiện nay tỷ lệ phát hiện bệnh nhân phong rất thấp: 0,08/100.000 dân; tỷ lệ l­ưu hành: 0,013/10.000 dân; tỷ lệ tàn tật bệnh nhân phong mới 0%;


Bài, ảnh: Đoàn Loan



Nguồn: Sở y tế Việt Nam

Sở y tế Hà Tĩnh - ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG AN TOÀN VỆ SINH TẠI CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN VÀ KINH DOANH THỰC PHẨM TẠI 10 XÃ, THỊ TRẤN THUỘC HUYÊN KỲ ANH NĂM 2011.

 

                                                          BSCKII Lê Văn Xuân và cộng sự
                                                  Trung tâm Y tế dự phòng huyện Kỳ Anh
I.  ĐẶT VẤN ĐỀ

       Thức ăn đường phố (TAĐP) là những thức ăn, đồ uống đã chế biến sẵn, có thể ăn ngay được, bán trên đường phố và những nơi công cộng. Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống người dân ngày càng cao và càng có nhu cầu giao lưu bên ngoài gia đình nhằm vui chơi giải trí, bàn về công việc hoặc thuận tiện trong sinh hoạt nên việc sử dụng thức ăn đường phố ngày càng phổ biến. Sự ra đời và phát triển của các cơ sở kinh doanh, chế biến và sản xuất thực phẩm ngày càng tăng là điều tất yếu. Tuy nhiên, việc quản lý đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thức ăn đường phố chưa được kiểm soát đầy đủ.

       Thống kê của cục vệ sinh an toàn thực phẩm trong 8 năm (2000 – 2007) ở nước ta đã có 1616 vụ ngộ độc thực phẩm làm 41898 người mắc, tử vong 436 người. Tại Hà Tĩnh năm 2010 có 06 vụ, có 239 người mắc và không có người tử vong. Riêng tại Kỳ Anh năm 2010 có 01 vụ làm 131 người mắc và không có trường hợp nào tử vong. Trong các nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm thì nguyên nhân do vi sinh vật chiếm tỷ lệ cao nhất.

       Để ngày càng quản lý tốt hơn về thức ăn đường phố, đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Kỳ Anh. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu:


Đánh giá thực trạng vệ sinh tại cơ sở giết mổ súc vật.

Đánh giá thực trạng vệ sinh tại cơ sở sản xuất thực phẩm.

Đánh giá thực trạng vệ sinh tại cơ sở kinh doanh và chế biến thực phẩm.


II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:


72 cơ sở giết mổ súc vật: Tr©u, bß, lîn ……

37 cơ sở sản xuất thực phẩm : Giò, chả, phở, bún, bánh tráng, nem  ch¶ ….

168 cơ sở kinh doanh và chế biến thực phẩm: Phở, bún, cháo, miến, cơm bình dân, giò chả, nem, thịt quay nướng…


    Tất cả các cơ sở có trên địa bàn 10 xã, lập danh sách theo từng xã và ghi nhận kết quả theo bộ câu hỏi soạn sẵn.
2.2. Địa điểm vµ thêi gian nghiên cứu:

- Các cơ sở giết mổ súc vật, cơ sở sản xuất thực phẩm, kinh doanh và chế biến thực phẩm trên địa bàn c¸c x·: Thị trấn Kỳ Anh, Kỳ Châu, Kỳ Hưng, Kỳ Phong, Kỳ Khang, Kỳ Trinh, Kỳ Lợi, Kỳ Đồng, Kỳ Tiến, Kỳ Phú thuéc huyện Kỳ Anh.

- Thêi gian nghiªn cøu tõ th¸ng 4 – th¸ng 11 n¨m 2011.
2.3. Phương pháp nghiên cứu:

-     Theo phương pháp nghiên cứu m« t¶ cắt ngang tarkeets hîp quan s¸t.

-     Kỹ thuật quan sát được thực hiện tại các cơ sở giết mổ súc vật, cơ sở sản xuất thực phẩm, kinh doanh và chế biến thực phẩm về các vấn đề liên quan ®Õn vệ sinh an toàn thực phẩm như: nhà, hố xí, vận chuyển, nguồn nước, đóng gói, vệ sinh bàn tay nhân viên, sàn nhà, dụng cụ, trang thiết bị…
2.4. Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được xử lý bằng ph­¬ng ph¸p th«ng kª y häc trên chương trình Epiinfo 6.0
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng vệ sinh tại các cơ sở giết mổ súc vật:
Bảng 1: Thực trạng vệ sinh tại cơ sở giết mổ súc vật (n = 72)





























































































TTChỉ số nghiên cứuTæng số

(N = 72)
Tỷ lệ (%)
1Vị trí khu giết mổ nằm trong khu dân cư72100
2Khu giết mổ chia khu sạch, bẩn và súc vật ốm6083.3
3Nền sạch không thấm nước, bằng phẳng, dễ cọ rửa72100
4Có thùng rác có nắp đậy kín5069.4
5Có kiểm soát thú y3954.2
6Mức độ cung cấp nước đủ, thường xuyên7097.2
7Sử dụng bảo hộ lao động  khẩu trang, găng tay, cặp dÒ4663.9
8Có giấy phép kinh doanh2129.2
9Có vệ sinh tiêu độc trước và sau khi giết mổ4156.9
10Được tập huấn kiến thức VSATTP cã giấy chứng nhận56.9
11Được khám sức khỏe định kỳ1318.1
12Sản phẩm được đóng gói1520.8
13Mổ súc vật trên sàn5272.2
14Diện tích khu giết mổ dưới 20m23345.8

NhËn xÐt:

Qua quan sát 72 cơ sở giết mổ súc vật vừa và nhỏ tại 10 xã, thị trấn cho thấy không có cơ sở nào đạt tiêu chuẩn vệ sinh đối với khu vực giết mổ súc vật. Có 100% cơ sở giết mổ súc vật nằm trong khu dân cư; có 45,8% cơ sở giết mổ có diện tích khu giết mổ dưới 20m2; sử dụng thùng rác có nắp đậy đạt 69,4%; thực hiện đóng gói trước lúc xuất hàng đạt 20,8%; tỷ lệ mổ súc vật trên sàn 72,8%; sử dụng bảo hộ lao động khi giết mổ súc vật 63,9%; sử dụng vệ sinh tiêu độc trước và sau khi giết mổ 56,9%; được tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm có cấp giấy chứng nhận 6,9%; tổ chức khám sức khỏe định kỳ 18,1% cho người lao động trực tiếp. Số cơ sở giết mổ đã được cấp giấy phép kinh doanh là 29,2%.
3.2. Thực trạng vệ sinh tại các cơ sở sản xuất thực phẩm:
Bảng 3. 2. Thực trạng vệ sinh tại cơ sở sản xuất thực phẩm (n = 37)





































































TTChỉ số nghiên cứuTần số

(N =37)
Tỷ lệ (%)
1Nền sạch sẽ không thấm nước bằng phẳng, dễ cọ rửa3697.3
2Có thùng rác, có nắp đậy kín1027
3Mức độ cung cấp nước  đủ, thường xuyên37100
4Sử dụng bảo hộ lao động  khẩu trang, găng tay, cặp dÒ1027
5Sản phẩm được đóng gói1232.4
6Có giấy phép kinh doanh718.9
7Được tập huấn kiến thức VSATTP cã giấy chứng nhận513.5
8Được khám sức khỏe định kỳ410.8
9Khoảng cách từ nơi chế biến đến nhà vệ sinh dưới 3 m12.7
10Có sử dụng chất phụ gia trong chế biến thực phẩm38.1

NhËn xÐt:

     Qua nghiên cứu 37 cơ sở sản xuất thực phẩm tại 10 xã, thị trấn, chúng tôi thấy có 97,3% cơ sở thiết kế nền nhà sạch không thấm nước, tuy nhiên vẫn còn 2.7% cơ sở có nhà vệ sinh quá gần nơi sản xuất thực phẩm; có 100% cơ sở cung cấp đủ nước thường xuyên; số cơ sở sử dụng thùng rác có nắp đậy kín chỉ đạt 27%; chỉ có 27% cơ sở có sử dụng bảo hộ lao động; tỷ lệ đóng gói sản phẩm khi xuất hàng là 32,4%; tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm đạt 13,5%; khám sức khỏe định kỳ đạt 10,8%; có 8,1% cơ sở sử dụng phụ gia trong chế biến thực phẩm; chỉ có 18,9% cơ sở được cấp giấy phép kinh doanh.
3.3. Thực trạng vệ sinh tại cơ sở kinh doanh và chế biến thực phẩm.
Bảng 3. 3: Thực trạng vệ sinh tại cơ sở kinh doanh và chế biến thực phẩm :




























































































TTChỉ số nghiên cứuTần số

(N =168)
Tỷ lệ (%)
1Mặt bàn chế biến thực phẩm cao ít nhất 60 cm16598.2
2Sử dụng nước máy7846.4
3Có dụng cụ sử dụng riêng biệt16095.2
4Sử dụng bảo hộ lao động  khẩu trang, găng tay, cặp dÒ11467.9
5Mua thực phẩm có địa chỉ rõ ràng13681.0
6Có thùng đựng rác13178.0
Có thùng đựng rác có nắp đậy kín, đổ hằng ngày8852.4
7Thức ăn bày trong tủ kính8349.4
8Sử dụng bao gói thực phẩm, túi ni lon11065.5
9Nơi bán hàng cách xa nguồn ô nhiễm (bụi, khói, chất độc hại, chất thải CN) trên 50 mét12473.8
10Có sử dụng chất phụ gia trong chế biến thực phẩm1810.7
11Được tập huấn kiến thức  VSATTP( giấy chứng nhận)7041.7
12Được khám sức khỏe định kỳ9456.0
13Cơ sở đạt tiêu chuẩn VSATTP (có giấy chứng nhận)5834.5

    NhËn xÐt:     

Đối với cơ sở kinh doanh và chế biến thực phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm có 58/168 đạt 34,5%. Tuy nhiên số cơ sở chưa đạt còn cao (65,5%). Quan sát 168 cơ sở kinh doanh, chế biến thực phẩm cho thấy chỉ có 46,4% số cơ sở sử dụng nước máy trong quá trình chế biến thực phẩm; có sử dụng bảo hộ lao động 67,9%; nơi bán hàng cách xa khu ô nhiễm trên 50 mét 73,8%; có 81% cơ sở mua thực phẩm có địa chỉ rõ ràng và tỷ lệ có sử dụng phụ gia thấp 10,7%; có sử dụng dụng cụ riêng biệt cho thực phẩm sống và chín là 95,2%; có 98,2% cơ sở sử dụng bàn chế biến thực phẩm đạt tiêu chuẩn độ cao trên 60cm; 49,4% cơ sở có tủ kính trưng bày thức ăn; tỷ lệ cơ sở được khám sức khỏe định kỳ 56%; nhân viên phục vụ được tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm có cấp giấy chứng nhận là 41,7%.

IV. BÀN LUẬN                                               

Những năm gần đây công nghệ sản xuất, chế biến thực phẩm phát triển góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước. Tuy vậy, tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, cá thể, trang thiết bị thô sơ, chưa đầu tư trang bị công nghệ cao; Người sản xuất, chế biến thùc phÈm thiếu nhận thức về vệ sinh an toàn thực phẩm. Bên cạnh đó hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đầy đủ, thanh tra kiểm tra chuyªn ngành vệ sinh an toàn thực phẩm chưa có, thanh tra liên ngành hoạt động chưa thường xuyên. Tình trạng giết mổ súc vật trên địa bàn huyện chưa được quản lý chặt chẽ, các sản phẩm giết mổ đều được bảo quản, vận chuyển chưa đảm bảo yêu cầu. Ngoài ra, khu giết mổ chật chội kém vệ sinh, nguồn nước không đủ và không đạt vệ sinh, không phân loại súc vật trước khi giết mổ là những yếu tố làm giảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.

Qua nghiên cứu 72 cơ sở giết mổ súc vật trên địa bàn Kỳ Anh cho thấy không có cơ sở nào đạt tiêu chuẩn vệ sinh đối với khu vực giết mổ súc vật, các cơ sở giết mổ hầu hết sử dụng bao tải để đựng súc vật đưa đi tiêu thụ. Có tới 30,6% cơ sở không có thùng  rác, sử dụng bao tải đựng rác thải và phế thải súc vật. Tình trạng nước thải sau khi giết mổ chưa được xử lý đúng quy định, gây ra ô nhiễm môi trường trong khu dân cư. Điều đáng chú ý là tỷ lệ mổ súc vật trên sàn khá cao (72,2%) đây là nguy cơ gây ô nhiễm chéo trong quá trình giết mổ. Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự nghiên cứu ở một số tỉnh như: nghiên cứu Đào Thị Minh An, Trần Thị Phúc Nguyệt – Đại Học Y Hà Nội có 79,5% cơ sở giết mổ súc vật trên sàn tại Hà Tây (cũ) năm 2008. Nghiên cứu của Phạm Thị Kim (2003) cho thấy nhà xưởng, dây chuyền, khu vực cách ly, khử trùng đều không đạt tiêu chuẩn vệ sinh, 100% giết mổ súc vật trên sàn, 100% cơ sở không có khử trùng tiêu độc, khám sức khỏe và tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm.

            Nghiên cứu 37 cơ sở sản xuất thực phẩm (giò, chả, phở, bún, bánh tráng, nem b¸nh m×) tại 10 x·, thị trấn huyện Kỳ Anh cho thấy vẫn còn 01 cơ sở (2,7%) có nhà vệ sinh quá gần nơi sản xuất thực phẩm. Điều đáng lưu ý là tỷ lệ sản phẩm được đóng gói trước khi xuất hàng còn thấp (32,4%), đây là nguy cơ gây ô nhiễm vi sinh vật cũng như hóa chất trong quá trình vận chuyển thực phẩm. Nghiên cứu Đào Thị Minh An, Trần Thị Phúc Nguyệt – Đại Học Y Hà Nội cũng có kết quả thấp (13,3%) tại Hà Tây (năm 2008). Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 100% cơ sở được cung cấp nước đủ thường xuyên; 97,3% cơ sở có nền chế biến sạch sẽ không thấm nước, phù hợp với nghiên cứu Lê Vinh và cộng sự, tỷ lệ cơ sở được cung cấp nước sạch thường xuyên là 68,8%. Tuy nhiên t¹i nghiªn cøu chóng t«i thÊy tỷ lệ cơ sở có thùng rác thấp (27%); sử dụng bảo hộ lao động (27%); sử dụng chất phụ gia thực phẩm (8,1%); khám sức khỏe định kỳ (10,8%); tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm (13,5%), cho thấy nhận thức của các cơ sở sản xuất thực phẩm về vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế, chấp hành các quy định về cơ sở đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm chưa nghiêm.

Tình trạng các cơ sở kinh doanh ăn uống không có đăng ký và chưa kiểm soát được với tỷ lệ cao, trong đó không ít cơ sở chưa đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Qua nghiên cứu 168 cơ sở kinh doanh và chế biến thực phẩm tại Kỳ Anh cho thấy chỉ có (46,4%) cơ sở sử dụng nước máy trong quá trình chế biến thực phẩm, tỷ lệ này cao hơn nghiên cứu của Đại Học Y Hà Nội 2008 (30,4%) nhưng vẫn quá thấp so với yêu cầu trong chế biến thực phẩm, những nguồn nước khác thường là không hợp vệ sinh hoặc là đựng trong bể chứa không được cọ rửa thường xuyên nên không đảm bảo vệ sinh. Các tiêu chí khám sức khỏe định kỳ (56%); tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm (41,7%); thức ăn bày trong tủ kính (49,4%); thùng rác được sử dụng có nắp đậy kín được đổ hằng ngày (52,4%), đều đạt trên dưới 50% dẫn đến tỷ lệ cơ sở đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm có cấp giấy chứng nhận (34,5%) thấp so với quy định cần tăng cường tuyên truyền phổ biến luật vệ sinh an toàn thực phẩm cho người dân hiểu và thực hiện.
V. kÕt luËn
5.1. Thực trạng vệ sinh tại các cơ sở giết mổ súc vật:

    Tỷ lệ vị trí khu giết mổ nằm trong khu dân cư 100%; tỷ lệ khu giết mổ chia khu sạch, bẩn và súc vật ốm 83.3%; tỷ lệ nền sạch không thấm nước, bằng phẳng, dễ cọ rửa 100%; tỷ lệ có thùng rác có nắp đậy kín 69.4%; tỷ lệ có kiểm soát thú y 54.2%; tỷ lệ mức độ cung cấp nước đủ, thường xuyên 97.2%; tỷ lệ sử dụng bảo hộ lao động 63.9%; tỷ lệ có giấy phép kinh doanh 29.2%; tye lệ có vệ sinh tiêu độc trước và sau khi giết mổ 56.9%; tỷ lệ được tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm 6.9%; tỷ lệ được khám sức khỏe định kỳ 18.1%; tỷ lệ sản phẩm được đóng gói 20.8%; tỷ lệ mổ súc vật trên sàn 72.2%; tỷ lệ diện tích khu giết mổ dưới 20m2 45.8%.
5.2. Thực trạng vệ sinh tại các cơ sở sản xuất thực phẩm:

    Tỷ lệ nền sạch sẽ, không thấm nước, bằng phẳng, dễ cọ rửa 97.3%; tỷ lệ có thùng rác, có nắp đậy kín 27%; tỷ lệ mức độ cung cấp nước đủ thường xuyên 100%; tỷ lệ sử dụng bảo hộ lao động như găng tay, khẩu trang, cặp dè 27%; tỷ lệ sản phẩm được đóng gói 32.4%; tỷ lệ có giấy phép kinh doanh 18.9%; tỷ lệ được tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm 13.5%; tỷ lệ được khám sức khỏe định kỳ 10.8%; tỷ lệ khoảng cách từ nơi chế biến đến nhà vệ sinh dưới 3 mét 2.7%; tỷ lệ có sử dụng chất phụ gia trong chế biến thực phẩm 8.1%.
5.3. Thực trạng vệ sinh tại cơ sở kinh doanh và chế biến thực phẩm:

      Cơ sở kinh doanh và chế biến thực phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm (34.5%); tỷ lệ mặt bàn chế biến thực phẩm cao ít nhất 60cm là (98.2%); Số cơ sở sản xuất thực phẩm có sử dụng nước máy là (46.4%); Số cơ sở có dụng cụ sử dụng riêng biệt (46.4%); tỷ lệ sử dụng bảo hộ lao động (67.9%); tỷ lệ số cơ sở mua thực phẩm có địa chỉ rõ ràng (81.0%); tỷ lệ cơ sở có thùng đựng rác (78.0%); tỷ lệ số cơ sở có thùng đựng rác có nắp đậy kín, đổ hằng ngày (52.4%); tỷ lệ thức ăn được bày trong tủ kính 49.4%; tỷ lệ sử dụng bao gói thực phẩm (65.5%); tỷ lệ nơi bán hàng cách xa nguồn ô nhiễm trên 50 mét (73.8%); tỷ lệ có sử dụng chất phụ gia trong chế biến thực phẩm (10.7%); tỷ lệ được tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm (41.7%).
VI. kiến nghị

     -      Quy hoạch và tăng cường giám sát các cơ sở giết mổ súc vật tập trung theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo chất lượng vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm.    

     -      Có cam kết xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh và chế biến thực phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.

     -      Thường xuyên thông báo cho người tiêu dùng những thực phẩm có nguy cơ ô nhiễm cao để có biện pháp phòng tránh.

     -      Tổ chức tốt các hình thức tuyên truyền và phổ biến luật vệ sinh an toàn thực phẩm đến tận người dân. Tăng cường công tác thanh tra liên ngành, xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm theo quy định của luật vệ sinh an toàn thực phẩm./.

 

 

 

 



Nguồn: Sở y tế Việt Nam